- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Duy Nh - Tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày 06-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hòa và ông Lê Xuân Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Tiến Phúc – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 06/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/HSST-QĐ ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:
Kiều Duy Nh, sinh năm 1990 tại xã Sen Ph, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Thôn X, xã Sen Ph, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Duy Ch và bà Nguyễn Thị D; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giam từ ngày 12/08/2024 đến nay. “có mặt”
Người bào chữa cho bị cáo: Các Luật sư Trịnh Văn Th, Vũ Tuấn L và Nguyễn Đức Q, Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Đông Hà Nội, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. “có mặt”
Bị hại: Ông Kiều Duy C, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn X, xã Sen Ph, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. “có mặt”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Kiều Duy Ch, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn X, xã Sen Ph, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. “có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, ông Kiều Duy C đến nhà anh Kiều Duy C1 cùng ở Thôn X, xã Sen Ph, huyện Phúc Thọ thì gặp anh C1, anh Nguyễn Phương H và Kiều Duy Nh đang ngồi ăn cơm, uống rượu, thì ông C ngồi uống nước gần chỗ mọi người đang ngồi uống rượu. Do mấy hôm trước, chị Nguyễn Thị B (là bạn gái của Nh) kể về việc ông C có hành vi sàm sỡ chị B nên Nh hỏi ông C “Sao chú lại sờ mông người yêu cháu”. Hai bên lời qua tiếng lại dẫn đến cãi nhau. Thấy vậy, anh C1 đuổi cả ông C và ông Nh ra khỏi nhà mình. Nh đi ra khỏi nhà anh C1 một lúc thì quay lại lấy xe máy. Nh và ông C lại cãi chửi nhau, rồi Nh xông vào dùng tay đấm ông C nhưng được anh C1 và anh H can ngăn nên cả hai đi về.
Khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, sau khi về nhà nhưng vẫn bực tức nên Nh cầm 01 đoạn tuýp sắt dài 92cm, đường kính 3cm, 01 đầu hàn 01 đoạn sắt có cạnh sắc và 01 con dao (kiểu dao dựa) dài 44cm, bản rộng 4cm đi đến trước cổng nhà ông C đứng đợi. Khi ông C vừa đi ra khỏi cổng thì Nh dùng tuýp sắt (phía phần đầu hàn sắt có cạnh sắc) vụt vào khuỷu tay trái và dùng dao chém vào vai trái của ông C. Do bị đánh bất ngờ nên ông C đưa tay phải lên che chắn thì bị Nh chém tiếp vào vùng má và trán. Ông C hô kêu cứu thì 02 con của ông C là Kiều Duy K và Kiều Mạnh C1 đang ở trong nhà chạy ra. Anh K cầm theo chiếc điếu cày vụt vào đầu và gáy của Nh. Cùng lúc, ông Kiều Duy Ch là bố đẻ của Nh đi từ trong nhà ra ngõ, thấy các bên xô xát nên vào can ngăn, thì Nh bỏ về nhà, còn ông C được đưa đi cấp cứu.
Hậu quả: - Ông Kiều Duy C bị thương tích: Đứt ống STENON và nhánh miệng, nhánh gò má ổ mắt TK VII P, gãy hở mỏm cùng vai, gãy kín mỏm khuỷu trái, cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Sơn Tây từ đêm ngày 05/4/2024, chuyển Bệnh viện Hữu Nghị Việt-Đức cấp cứu đến ngày 12/4/2024 thì ra viện.
- Kiều Duy Nh bị thương tích: Vết thương chẩm kích thước (1x3)cm và 01 vết thương thái dương kích thước (1x3)cm đã xử lý khâu, liền tốt, đau thành ngực trái tại vị trí đánh, bầm tím lưng lệch trái kích thước (5x10)cm, ấn đau, tim đều, phổi không ran, sơ cứu tại Trạm y tế xã Sen Ph (cơ sở 2), điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ từ ngày 07/4/2024 đến ngày 11/4/2024 ra viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 982/ KLTTCT-TTPY ngày 22/7/2024 của Trung tâm pháp y Hà Nội, đối với thương tích của ông Kiều Duy C:
“1. Các kết quả chính:
1.1. Sẹo vết thương trán phải (sát và ngoài chân tóc): 03%
1.2. Sẹo vết thương vết mổ má phải: 09%
1.3. Vết thương vết mổ mặt trên ngoài vai trái: 03%
2
1.4. Sẹo vết thương ở mặt sau 1/3 trên cánh tay trái: 02%
1.5. Sẹo vết mổ mặt sau khuỷu tay trái: 03%
1.6. Gãy mỏm cùng vai trái, đã phẫu thuật kết hợp xương: 06%
1.7. Gãy mỏm khuỷu trái, đã phẫu thuật kết hợp xương: 06%
1.8. Tổn thương ống stenon và tuyến nước bọt mang tai phải, đã phẫu thuật khâu nối: 05%
1.9. Tổn thương nhánh thần kinh VII phải (nhánh miệng, nhánh gò má), đã phẫu thuật khâu nối: 07%
1.10. Vỡ 1 phần nhỏ xương gò má phải: 01%
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Kiều Duy C tại thời điểm giám định là: 37% (Ba mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
2.2. Kết luận khác:
- Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của ông Kiều Duy C do vật có cạnh sắc gây ra.
- Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi tháo phương tiện kết hợp xương”.
Quá trình điều tra, ông Kiều Duy C từ chối đi giám định bổ sung để đánh giá mức độ di chứng, biến chứng của các tổn thương.
Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo Kiều Duy Nh về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Kiều Duy Nh 03 năm-03 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:
Viện kiểm sát truy tố bị cáo Kiều Duy Nh về tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu, đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố mẹ bị cáo tham gia thanh niên xung phong, bác ruột của bị cáo là thương binh, chú ruột bị cáo tham gia quân đội và được tặng
3
thưởng huân chương, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức thấp Nh của khung hình phạt và có thể cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phúc Thọ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo khai quá trình điều tra, không bị Điều tra viên và cán bộ điều tra mớm cung, ép cung hay dùng nhục hình. Bị cáo tự nguyện và thành khẩn khai báo sự thật theo diễn biến sự việc đã xảy ra và cán bộ điều tra ghi đúng lời khai của bị cáo. Tại các biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung bị can, bị cáo đều tự nguyện khai báo, đều được tự đọc hoặc nghe đọc lại các biên bản trước khi ký. Khi Kiểm sát viên hỏi phúc cung, bị cáo cũng khai quá trình điều tra, không mớm cung, ép cung, không bị dùng nhục hình. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai: Do bực tức vì nghe bạn gái kể bị ông Kiều Duy C bóp mông nên khi gặp ông C vào buổi tối ngày 05/04/2024 tại nhà anh Kiều Duy C1 (Thôn X, xã Sen Ph, huyện Phúc Thọ), Kiều Duy Nh và ông C đã xảy ra cãi chửi, xô xát nhau nhưng được mọi người can ngăn. Nh về nhà cầm 01 đoạn tuýp sắt dài 92cm, đường kính 3cm, 01 đầu hàn 01 đoạn sắt có cạnh sắc và 01 con dao (kiểu dao dựa) dài 44cm, bản rộng 4cm đi đến trước cổng nhà ông C đứng đợi. Khi ông C vừa đi ra khỏi cổng thì Nh dùng tuýp sắt (phía phần đầu hàn sắt có cạnh sắc) vụt vào khuỷu tay trái và dùng dao chém vào vai trái của ông C. Do bị đánh bất ngờ nên ông C đưa tay phải lên che chắn thì bị Nh chém tiếp vào vùng má và trán. Ông C hô kêu cứu thì 02 con của ông C là Kiều Duy K và Kiều Mạnh C1 đang ở trong nhà chạy ra. Anh K cầm theo chiếc điếu cày vụt vào đầu và gáy của Nh. Cùng lúc, ông Kiều Duy Ch là bố đẻ của Nh cũng từ nhà chạy ra can ngăn, thì Nh bỏ về nhà, còn ông C được đưa đi cấp cứu. Hậu quả: Ông C bị tổn thương cơ thể là 37%. Kiều Duy Nh điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Phúc Thọ từ ngày 07/4/2024 đến ngày 11/4/2024 ra viện nhưng từ chối đi giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể.
4
Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, do mâu thuẫn cá nhân nên Kiều Duy Nh đã có hành vi dùng tuýp sắt và dao (là hung khí nguy hiểm) đánh ông Kiều Duy C gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 37% (Ba mươi bảy phần trăm), tại khu vực cổng nhà ông C thuộc Thôn X, xã Sen Ph, huyện Phúc Thọ.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn, hành vi của Kiều Duy Nh đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ.
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Tòa án xem xét: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, bị cáo đầu thú, bố và mẹ của bị cáo có thời gian tham gia thanh niên xung phong, bác ruột là thương binh; chú ruột phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam và được tặng thưởng nhiều huân, huy chương, bị cáo đầu thú, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (vợ bỏ đi, một mình bị cáo phải nuôi 02 con nhỏ) là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt và phạt bị cáo dưới mức thấp Nh của khung hình phạt bị truy tố.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) đoạn ống bằng kim loại hình trụ (thường gọi là tuýp sắt) có chiều dài 92cm, đường kính 03cm, 01 đầu có gắn 01 đoạn kim loại đường kính 01cm, dài 06cm, mặt ngoài đoạn ống có dính vữa xây dựng rải rác theo chiều dài ống; 01 (một) con dao kiểu dao dựa dài 44cm, cán dao bằng gỗ dài 15.5cm, đầu cán dao có bọc kim loại màu trắng sáng, lưỡi dao bằng kim loại dài 28.5cm, bản dao chỗ rộng Nh là 04cm và 01 (một) chiếc điếu cày bằng tre có bọc kim loại màu trắng sáng bên ngoài dài khoảng 54cm, đường kính 04cm là các công cụ phạm tội hoặc liên quan đến vụ án nhưng đều không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu, tiêu hủy.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Tòa án không xem xét..
Ông Kiều Duy Ch (là bố của bị cáo) tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông C thay cho bị cáo. Ông Chỉ không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền ông đã bồi thường cho bị hại nên Tòa án không xem xét.
5
. Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Kiều Duy Nh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Đối với anh Kiều Duy K, khi nhìn thấy bố mình là ông C đang bị Nh đánh nên Kiên đã có hành vi dùng chiếc điếu cày bằng tre bọc kim loại (là hung khí nguy hiểm) vụt trúng đầu, gây thương tích cho Nh. Nhưng do Nh từ chối, không đi giám định thương tích, nên không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể của Kiều Duy Nh là bao nhiêu phần trăm. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý về hình sự đối với Kiều Duy K về tội “Cố ý gây thương tích”. Công an huyện Phúc Thọ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Kiều Duy K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Kiều Duy Nh 03 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời hạn tù kể từ ngày bắt giam 12/08/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) đoạn ống bằng kim loại hình trụ (thường gọi là tuýp sắt) có chiều dài 92cm, đường kính 03cm, 01 đầu có gắn 01 đoạn kim loại đường kính 01cm, dài 06cm, mặt ngoài đoạn ống có dính vữa xây dựng rải rác theo chiều dài ống; 01 (một) con dao kiểu dao dựa dài 44cm, cán dao bằng gỗ dài 15.5cm, đầu cán dao có bọc kim loại màu trắng sáng, lưỡi dao bằng kim loại dài 28.5cm, bản dao chỗ rộng Nh là 04cm và 01 (một) chiếc điếu cày bằng tre có bọc kim loại màu trắng sáng bên ngoài dài khoảng 54cm, đường kính 04cm. (Theo biên bản giao nhận ngày 29/10/2024)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án
Bị cáo Kiều Duy Nh phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
6
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Đức Hiếu
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; 7 - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ; - Công an huyện Phúc Thọ; - Sở tư pháp TP. Hà Nội; - Bị cáo; bị hại; người có QL,NV liên quan; - Chi cục THADS huyện Phúc Thọ; - Lưu HS, VP. thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án; 8 | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Hiếu Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật |