- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số: 103/2024/HNGĐ- ST"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Sầm Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2024/HNGĐ- ST Ngày: 02/5/2024 V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ;
2. Bà Lộc Thị Kim Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Lương Nguyễn Thảo Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 02/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2024/TLST- HNGĐ, ngày 29 tháng 02 năm 2024, về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01/4/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 19a/2024/QĐHPT - HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa:
* Nguyên đơn: Chị Sầm Thị M, sinh năm 1990
* Bị đơn: Anh Cao Văn C, sinh năm 1992;
Cùng địa chỉ: Thôn Đồng Giàn, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
(Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Sầm Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Cao Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 05/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, việc đăng ký trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống tại thôn Đồng Giàn, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đến nay mâu thuẫn đã rất trầm trọng, chị và anh C sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, chị xác định vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện Y giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Văn C.
Về con chung: Chị và anh Cao Văn C có 01 con chung là cháu Cao Thanh T, sinh ngày 22/10/2019, hiện cháu T đang ở với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, về nợ chung: Chị và anh Cao Văn C không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên anh C không có mặt tại để giải quyết vụ án, không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó Tòa án không lấy được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Chị M có đơn từ chối hòa giải.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, Chị M giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Y phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Đề nghị HĐXX: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sầm Thị M, xử cho Chị M được ly hôn với anh Cao Văn C. Về con chung: Giao cháu Cao Thanh T, sinh ngày 22/10/2019 cho Chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung, Chị M không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Chị M xác định không có, nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị M và anh C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung, do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: kết quả xác minh xác định bị đơn là anh Cao Văn C hiện đang cư trú, sinh sống tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Anh C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu khởi kiện của chị Sầm Thị M, HĐXX nhận định:
Đối với yêu cầu xin ly hôn với anh Cao Văn C: Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh C đang sinh sống thường xuyên xác định: Chị M và anh C kết hôn từ năm 2018. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống chung tại thôn Đồng Giàn, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn cụ thể địa phương không nắm được. Bản thân Chị M xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể quay lại đoàn tụ được. Mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn theo Chị M xác định do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh C không có ý kiến gì, không có mặt theo yêu cầu của Tòa án để tiến hành hòa giải, điều đó cho thấy anh C cũng không mong muốn hòa giải đoàn tụ. Chị M và anh C đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Tình trạng mâu thuẫn giữa Chị M và anh C cũng được chính quyền địa phương xác nhận.
Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa Chị M và anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của Chị M là chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với yêu cầu được giao nuôi con chung khi ly hôn, HĐXX nhận định: Chị M và anh C có 01 con chung là cháu Cao Thanh T, sinh ngày 22/10/2019, hiện cháu T đang ở cùng Chị M. Anh C giấu địa chỉ, không rõ nghề nghiệp, mức thu nhập và không có văn bản trình bày nguyện vọng nuôi con. Bản thân Chị M có nguyện vọng được nuôi con, Chị M có thu nhập ổn định khoảng 6.000.000 đồng/ 1 tháng, có chỗ ở ổn định. Tham vấn ý kiến của chính quyền địa phương có ý kiến, trong hoàn cảnh của Chị M thì Toà án nên giao cháu T cho Chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Từ những căn cứ trên, HĐXX xét thấy yêu cầu được quyền nuôi con của Chị M là có căn cứ cần được chấp nhận. Do Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nên anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị M phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh C không phải nộp án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Sầm Thị M.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Chị Sầm Thị M được ly hôn anh Cao Văn C.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Cao Thanh T, sinh ngày 22/10/2019 cho chị Sầm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Cao Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: chị Sầm Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000001000122 ngày 29/02/2024 của Công ty Cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam và theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001125 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Anh Cao Văn C không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Y; - Chi cục THADS huyện Y; - UBND xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu VT- HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đặng Thị Huệ - Lộc Thị Kim Thơm | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Toàn THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Toàn |