vanban.org

Bản án 103/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Chí C. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Chí C được ly hôn với chị Lâm Thị Thúy M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa nguyên đơn Nguyễn Chí C và bị đơn Lâm Thị Thúy M"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ ÔN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2024
V/v tranh chấp ly hôn
và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Hiểu.

2/ Bà Nguyễn Thị Mến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Diệu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 2000. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp X, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Chị Lâm Thị Thúy M, sinh năm 1997. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp X, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 19/02/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Chí C trình bày: Anh và chị Lâm Thị Thúy M thành hôn có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 21/8/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống tại ấp X, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Vợ chồng chung sống được 04 năm, thời gian chung sống lúc đầu rất hạnh phúc, sau đó vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 04/2023 đến nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lâm Thị Thúy M. Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh và chị Lâm Thị Thúy M có 01 con chung tên Nguyễn Lâm Minh T, sinh ngày 31/12/2018, hiện đang sống chung với anh. Anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Lâm Thị Thúy M đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Toà án.

Tại biên bản xác minh ngày 11/7/2024 bà Nguyễn Thị Cẩm H (mẹ ruột của anh Nguyễn Chí C) trình bày: Anh Nguyễn Chí C và chị Lâm Thị Thúy M thành hôn năm 2020, vợ chồng anh C sống chung với gia đình bà. Trong thời gian sống chung, vợ chồng anh C thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên chị M bỏ đi, vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ tháng 4/2003 đến nay. Con chung của anh C, chị Mỹ là cháu Nguyễn Lâm Minh T từ nhỏ đến nay sống chung với gia đình bà. Sau khi chị M bỏ đi cũng ít về thăm con, cháu T được anh C và gia đình bà chăm sóc chu đáo, cho đi học đầy đủ và phát triển bình thường.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn anh Nguyễn Chí C vắng mặt có yêu cầu vắng mặt.

Bị đơn chị Lâm Thị Thúy M vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không tham gia đầy đủ các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là vi phạm quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án:

Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Chí C được ly hôn với chị Lâm Thị Thúy M.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lâm Minh T, sinh ngày 31/12/2018 cho anh Nguyễn Chí C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Lâm Thị Thúy M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Chí C không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Chí C có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Chí C vắng mặt có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Lâm Thị Thúy M vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Chí C và chị Lâm Thị Thúy M thành hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 21/8/2020 nên xem đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình chung sống, anh Nguyễn Chí C trình bày vợ chồng sống chung có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, chị Lâm Thị Thúy M bỏ đi nên vợ chồng đã cắt đứt quan hệ, cả hai đều không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc này được xác định qua lời trình bày của bà Nguyễn Thị Cẩm H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập đương sự nhiều lần để hòa giải nhằm giúp đỡ anh C, chị M đoàn tụ nhưng chị M vắng mặt không lý do, chứng tỏ chị M không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Giữa anh Nguyễn Chí C và chị Lâm Thị Thúy M có 01 con chung là Nguyễn Lâm Minh T sinh ngày 31/12/2018, hiện đang sống chung với anh C. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh C, chị M chấm dứt quan hệ vợ chồng cho đến nay cháu T được anh C chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo và học hành đầy đủ. Mặc khác, chị M cũng không có ý kiến gì về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, để ổn định cuộc sống và sự phát triển về tâm sinh lý, cần giao cháu Nguyễn Lâm Minh T, sinh ngày 31/12/2018 cho anh Nguyễn Chí C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Anh Nguyễn Chí C là người đang trực tiếp nuôi con nhưng anh C không yêu cầu chị Lâm Thị Thúy M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Chí C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Chí C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Chí C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Chí C được ly hôn với chị Lâm Thị Thúy M.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lâm Minh T, sinh ngày 31/12/2018 cho anh Nguyễn Chí C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Lâm Thị Thúy M không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Chí C có nghĩa vụ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0011072 ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn.

4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ