vanban.org

Bản án 103/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 02/02/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/02/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 235/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Không chấp nhận y u cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M về y u cầu ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H có nghĩa vụ li n ới trả cho ông M số tiền thu còn thiếu là 95.000.000 ng, trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật và y u cầu ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Văn M - Trà Văn T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 235/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất ai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/DS-PT
Ngày: 02-02-2024
V/v tranh chấp: H p ng thu
và chuyển như ng quyền sử dụng
ất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Em

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Triều

Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát vi n.

Ngày 02 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 550/2023/TLPT-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp H p ng thu và chuyển như ng quyền sử dụng ất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 235/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1076/2023/QĐ-PT ngày 19 tháng 12 năm 2023 giữa các ương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện hợp pháp của ông M: Ông Bùi Quang N, sinh năm 1956 (có mặt),

Địa chỉ: Số D, tổ B, khu D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang

(Văn bản ủy quyền ngày 20/6/2022).

- Bị đơn:

1. Ông Trà Văn T, sinh năm 1972;

2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974;

3. Chị Trà Thị Anh T1, sinh năm 2002;

4. Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1933.

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện hợp pháp của ông T, chị T1 và bà H: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974 (có mặt),

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 11/8/2022).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L: Luật sư Nguyễn Thị Ngọc H1, thuộc Văn phòng L1, oàn luật sư tỉnh T (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trà Văn T2, sinh năm 1962 (có ơn vắng mặt);

2. Anh Võ Văn Duy K, sinh năm 1996 (có ơn vắng mặt);

3. Bà H Thị H2, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

4. Phòng C, tỉnh Tiền Giang (có ơn vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố B, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: Nguy n ơn ông Nguyễn Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm;

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:

Ông M có quyền sử dụng thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH01491, ư c Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 18/03/2013, ông M ã nhận chuyển như ng và hiện do ông M ứng t n tr n giấy chứng nhận ngày 14/4/2021.

Vào ngày 01/05/2021, ông M có làm h p ng cho gia ình ông T, bà L, chị T1, bà H thu toàn bộ thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, ịa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, tr n thửa ất có căn nhà thô sơ, xây tường ã lâu nhưng chưa tô vách tường. Với giá thu là: 110.000.000 ng/năm và ông M cho gia ình ông T, bà L, chị T1, bà H lưu cư trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 01/05/2021. Sau khi hết thời hạn lưu cư thì gia ình ông T, bà L, chị T1, bà H sẽ dọn i và trả lại nhà ất tr n cho ông M.

Nhưng từ ngày thu ến nay phía ông T, bà L, chị T1, bà H chỉ óng tiền thu cho ông M là 15.000.000 ng. Từ ó ến nay ông M ã nhiều lần ến nhà y u cầu phía ông T, bà L, chị T1, bà H trả cho ông M số tiền thu còn thiếu là 95.000.000 ng và ông M y u cầu phía ông T, bà L, chị T1, bà H di dời trả lại căn nhà ã thu cho ông M nhưng ến nay phía ông T không chịu thực hiện.

Từ lý do tr n, nay ông M làm ơn này y u cầu Tòa án nhân dân huyện C xem xét và giải quyết:

Buộc ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H có nghĩa vụ li n ới trả cho ông M số tiền thu còn thiếu là 95.000.000 ng, trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H phải di dời dùng cá nhân i nơi khác, ể trả lại cho ông M thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ư c Ủy ban Nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất ngày 18/03/2013, ông M ã nhận chuyển như ng, ư c cập nhật vào ngày 14/4/2021, do ông M ứng t n tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng ất.

Bị đơn bà Nguyễn Thị L, đồng thời là đại diện bị đơn ông Trần Văn T3, bà Đoàn Thị H và chị Trà Thị Anh T1 trình bày:

Do gia ình chúng bà n tiền hụi của bà H2, ông M, có những lần bà H2 ến gia ình bà òi n , do không có tiền n n bà cũng ã hứa hẹn rất nhiều lần. Vào khoảng tháng 4/2021, biết gia ình bà bị n xấu, không thể nào vay ngân hàng ư c n n bà H2 ã cố tình lừa gạt bà, bà H2 nói cứ ủy quyền giấy chứng nhận quyền sử dụng ất ể bà vay ngân hàng cho.

Ch ng của bà là nông dân lao ộng, chất phát, lại không biết chữ, bà H2 gạt ch ng tôi ến Văn phòng công chứng (do không biết chữ n n ch ng của bà không biết là văn phòng công chứng hay ngân hàng) mà i vô ó, do không biết chữ n n ch ng của bà ã ký t n trong h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất sang t n cho ông Nguyễn Văn M.

Mãi ến nay gia ình bà mới biết vì gia ình bà cứ tưởng ký t n như vậy ể ông M ứng ra vay ngân hàng dùm bà, nhưng nào ngờ chuyện lại ra như vậy.

Sau ó bà H2 ến nhà bà k u tất cả gia ình ký t n vô hết ể bà vay ngân hàng nhưng không phải, mà ó là ký h p ng thu ất.

Hiện tại gia ình bà có tổng cộng là 06 nhân khẩu, trong ó có 01 cụ già 88 tuổi, gia ình bà xây dựng một ngôi nhà cấp 4 ki n cố, vì vào năm 2002 gia ình bà ư c chính quyền ịa phương trao tặng nhà tình nghĩa cho gia ình chính sách (vì mẹ của bà là v của liệt sĩ), gia ình bà có dành dụm tiền n n xây ngôi nhà hơi lớn một tí so với số tiền ư c tr cấp.

Trong lúc bà H2 k u bán ất, v ch ng bà có xin bà H2 cứ lấy hết ất trừ n hụi nhưng chừa lại ngôi nhà nhưng bà H2 không ng ý, bà còn nói phải lấy luôn ngôi nhà bán người khác ất mới có giá trị vì ất và nhà của gia ình bà nằm ngay mặt tiền lộ lớn.

Bà H2 nói sẽ cho gia ình bà một miếng ất nhỏ (phía sau hè nhà bà bây giờ, gần mé sông) ể cất nhà nhưng thực tế nếu bà bỏ nhà này xây lại nhà mới chi phí rất tốn kém.

Gia ình bà n bà H2, ông M tổng cộng 451.000.000 ng tiền n hụi.

Ngày 03/4/2022, v ch ng bà H2, ông M gạt ch ng của bà ký t n vào h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất, trong h p ng có ghi Do ông Trà Văn T không ọc ư c, ông Trà Văn T tự mời 2 người làm chứng là ông Bùi Văn T4 và ông Ngô Văn T5, cùng ngụ Bến Tre, thực tế ông T4 là cháu ruột của bà H2 gọi bằng dì, ông T5 là anh rễ của bà H2, ây là sự mưu mô tính toán có khoa học. Lúc này con rễ của bà là anh K ứng b n ngoài, ch ng của bà có y u cầu anh K vô phòng nhưng bà H2, ông M không ng ý mà y u cầu anh K i ở b n ngoài.

Ngày 14/4/2021, ông Nguyễn Văn M ứng t n tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng ất. Trong h p ng chuyển như ng bà không có ký t n. Theo quy ịnh tại khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia ình thì v ch ng bình ẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, ịnh oạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao ộng trong gia ình và lao ng có thu nhập. Theo ó, quyền sử dụng ất, tài sản gắn liền với ất là tài sản chung thì ch ng có quyền chiếm hữu, sử dụng, ịnh oạt như v .

Như vậy nếu tài chung mà ch ng tự ý chuyển như ng, tặng cho quyền sử dụng ất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với ất mà không có sự ng ý của v thì v có quyền y u cầu Tòa án tuy n bố giao dịch vô hiệu theo khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia ình.

Đến ngày 01/5/2021, bà H2, ông M lại ến nhà của bà nói ký t n vào H p ng này thì mới vay tiền Ngân hàng ư c, gia ình bà ã ng ý ký t n do tin tưởng nhau n n gia ình bà không ngần ngại mà tất cả cùng ký.

Thực tế gia ình bà chỉ có 1 ngôi nhà và 1 miếng ất này ể làm ăn và sinh sống. Ngoài miếng ất này gia ình bà không có miếng ất hay ngôi nhà nào khác, ó là mảnh ất duy nhất, thì làm sao gia ình bà thu của ông M, bà bà H2 ư c, ây là một dạng h p ng giả tạo.

Đây rõ ràng là n hụi nhưng phía nguy n ơn là ông M ã xoay chuyển vụ việc sang hình thức là Tranh chấp h p ng thu quyền sử dụng ất”.

Đối với số tiền 15.000.000 ng, ông M cho rằng trả tiền thu ất là không úng mà ây là tiền lãi 01 tháng bà ã trả cho H2 vì bà H2 nói ã vay ngân hàng dùm gia ình bà 500.000.000 ng, mỗi tháng óng lãi 15.000.000 ng. Bà ã óng ư c 01 thì bà có y u cầu bà H2 ưa giấy vay tiền ngân hàng, nhưng bà H2 không ưa ra, n n bà không óng lãi tiếp. Từ ó, ông M mới khởi kiện gia ình bà.

Vì vậy, bà y u cầu Tòa án nhân dân huyện C giải quyết những vấn ề sau ây ối với nguy n ơn:

Tuy n bố h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất, lập ngày 03/4/2021 giữa ông Trà Văn T với ông Nguyễn Văn M là vô hiệu.

Tuy n bố h p ng thu ất ngày 01/5/2021 giữa ông Nguyễn Văn M với ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trần Thị Anh T6 và bà Đoàn Thị H là vô hiệu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn Duy K trình bày:

Gia ình của v anh chỉ thiếu tiền hụi của v ch ng ông M, bà H2, chứ không có thu quyền sử dụng ất, cũng không có chuyển như ng quyền sử dụng ất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị H2 trình bày: Bà thống nhất và ng ý với toàn bộ y u cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 235/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang ã quyết ịnh áp dụng: Các iều 115, 117, 122, 124, 166, 500 và 501 của Bộ luật Dân sự; Điều 166 của Luật Đất ai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Không chấp nhận y u cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M về y u cầu ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H có nghĩa vụ li n ới trả cho ông M số tiền thu còn thiếu là 95.000.000 ng, trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật và y u cầu ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H phải di dời dùng cá nhân i nơi khác, ể trả lại cho ông M thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ư c Ủy ban Nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất ngày 18/03/2013, ông M ã nhận chuyển như ng, ư c cập nhật vào ngày 14/4/2021, do ông M ứng t n tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng ất.

2. Chấp nhận y u cầu phản tố của bà Nguyễn Thị L.

Tuy n bố H p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất ký kết giữa ông Trà Văn T với ông Nguyễn văn M1, thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ư c Phòng C, tỉnh Tiền Giang, công chứng ngày 03/4/2021 là vô hiệu.

Tuy n bố H p ng thu ất ngày 01/5/2021, xác lập giữa ông Nguyễn Văn M với ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trần Thị Anh T6 và bà Đoàn Thị H là vô hiệu.

Ngoài ra bản án còn tuy n về án phí và quyền kháng cáo của ương sự.

Ngày 11/10/2023, ông Nguyễn Văn M có ơn kháng cáo bản án sơ thẩm, y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử :

+ Bác toàn bộ y u cầu phản tố của bà Nguyễn Thị L.

+ Buộc ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H có nghĩa vụ li n ới trả cho ông M số tiền thu còn thiếu là 95.000.000 ng, trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật.

+ Buộc ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H phải di dời dùng cá nhân i nơi khác, ể trả lại cho ông M thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ư c Ủy ban Nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất ngày 18/03/2013, ông M ã nhận chuyển như ng, ư c cập nhật vào ngày 14/4/2021, do ông M ứng t n tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng ất.

Tại phi n tòa phúc thẩm, nguy n ơn giữ nguy n y u cầu khởi kiện và y u cầu kháng cáo, y u cầu Hội ng xét xử chấp nhận y u cầu khởi kiện của nguy n ơn, không chấp nhận y u cầu phản tố của bị ơn, trường h p Tòa án hủy h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất thì ề nghị Hội ng xét xử giải quyết hậu quả của h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất, bị ơn không ng ý với y u cầu kháng cáo của nguy n ơn. Các ương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và l i ích của bị ơn phát biểu: H p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất giấy tay thì không có cụ H chuyển như ng vì tr n ất có căn nhà tình nghĩa của cụ H. H p ng chuyển như ng ngày 03/4/2021 có công chứng chỉ có ông T chuyển như ng nhưng ây là tài sản chung của ông T, bà L. Nguy n ơn không có chứng cứ chứng minh bị ơn có nhận của nguy n ơn 500.000.000 ng. N n H p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất giữa ông M và ông T là giả tạo do bị ơn thiếu n của ông M, bà H2. Nguy n ơn cho rằng nếu h p ng không thực hiện ư c thì trả 500.000.000 ng và tiền lãi thì bị ơn không ng ý vì không có nhận tiền. Do ó ề nghị Hội ng xét xử không chấp nhận y u cầu khởi kiện và y u cầu kháng cáo của nguy n ơn. Giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến: Về tố tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội ng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho ến trước thời iểm Hội ng xét xử nghị án là úng theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: H p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất giữa ông Nguyễn Văn M và ông Trà Văn T ối với thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang lập ngày 03/4/2021 tại Văn phòng C1 tỉnh Tiền Giang là không vô hiệu do giả tạo theo quy ịnh tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự như án sơ thẩm nhận ịnh. Bởi lẽ trước khi ông T ký h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang tại Phòng C, tỉnh Tiền Giang cho ông M thì ngày 21/02/2021 ông Trà Văn T, v Nguyễn Thị L con là Trà Thị Anh T1 có làm giấy tay bán ất cho ông Nguyễn Văn M, bà H Thị H2 và làm h p ng thu lại thửa ất tr n. Nay ông T, bà L, chị T1 lại cho rằng việc chuyển như ng ất của ông T và ông M là ông bà không biết mà ông bà chỉ ủy quyền cho ông M vay tiền như nhận ịnh tr n là không có căn cứ. Hơn nữa giá chuyển như ng thửa ất vào tháng 4/2021 là 500.000.000 ng ến khi tranh chấp theo bi n bản Hội ng ịnh giá huyện C ngày 21/9/2022 là 796.000.000 ng là cũng không ch nh lệch lớn so với thời iểm chuyển như ng. Do ó có căn cứ xác ịnh h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất diện tích ất 1.176m2 ịa chỉ ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang lập ngày 03/4/2021 tại Phòng C tỉnh Tiền Giang giữa ông M và ông T giá 500.000.000 ng là có thật.

Tuy nhi n tr n phần ất chuyển như ng có 01 căn nhà tình nghĩa của cụ Đoàn Thị H ư c cấp vào năm 2002 theo quyết ịnh số: 77/QĐ-UB ngày 22/5/2002 của UBND huyện C. Khi ông T chuyển như ng ất cho ông M tr n ất có căn nhà của cụ H mà không có sự ng ý của cụ H. Do ó h p ng chuyển như ng ất quyền sử dụng ất giữa ông M và ông T lập ngày 03/4/2021 tại phòng C2 tỉnh Tiền Giang là vô hiệu do ối tư ng không thực hiện ư c theo Điều 408 Bộ Luật dân sự 2015 n n h p ng thu quyền sử dụng ất giữa ông M và hộ ông T lập ngày 01/5/2021 cũng bị vô hiệu. Do ó ông M y u cầu khởi kiện, y u cầu kháng cáo y u cầu hộ ông T di dời nhà trả ất và trả tiền thu ất 95.000.000 ng là không có căn cứ.

Do h p ng vô hiệu n n ề nghị Hội ng xét xử giải quyết hậu quả của h p ng vô hiệu và xác ịnh lỗi hai b n.

Từ những phân tích n u tr n, ề nghị Hội ng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghi n cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, nội dung y u cầu kháng cáo của bị ơn, lời trình bày của các ương sự, ý kiến phát biểu của ại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang. Tr n cơ sở kết quả tranh tụng tại phi n tòa, Hội ng xét xử nhận ịnh:

Xét ơn kháng cáo và bi n lai thu tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm của ông Nguyễn Văn M còn trong thời hạn luật ịnh, úng theo quy ịnh tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, n n ư c xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo y u cầu khởi kiện của nguy n ơn và y u cầu phản tố của bị ơn Tòa án cấp sơ thẩm xác ịnh quan hệ pháp luật tranh chấp H p ng thu và h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất” úng theo quy ịnh tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Xét y u cầu khởi kiện và y u cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M cùng các tài liệu chứng cứ có trong h sơ thể hiện: Ngày 21/02/2021 AL ông Trà Văn T, v Nguyễn Thị L con là Trà Thị Anh T1 có làm giấy tay bán ất cho ông Nguyễn Văn M, bà H Thị H2 có nội dung chúng tôi có chuyển như ng cho ông Nguyễn Văn M và bà H Thị H2 thửa ất 136 tờ bản 39 diện tích 1.176m2 ịa chỉ ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Gia ình chúng tôi cam kết không có tranh chấp về sau và hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc, giá chuyển như ng là 500.000.000 ng. Tr n thửa ất có 01 ngôi nhà ư c lưu cư ở lại 01 năm sẽ di dời nhà, tính từ ngày chuyển như ng ất cho ông M. Ông T, bà L, chị T1 cùng ký t n. Có ông Bùi Văn T4 và Ngô Văn T5 ký t n người làm chứng”. Đến ngày 03/4/2021 hai b n lập h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất tại phòng C, tỉnh Tiền Giang thửa ất n u tr n giá ghi trong h p ng là 150.000.000 ng. Do giấy ất chỉ có ông T ứng t n n n chỉ có ông T làm h p ng chuyển như ng cho ông M. Ông M cho rằng ã giao tiền ủ cho v ch ng và con ông T ngay khi làm giấy tay mua bán ất r i mới ra công chứng, ông M ư c ứng t n trang 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng ất của ông Trà Văn T ứng t n ngày 14/4/2021. Ngày 01/5/2021 ông M cho v ch ng ông T, bà L và con là Trà Thị Anh T1 thu lại diện tích ất tr n thời hạn là 01 năm (từ ngày 01/5/2021 ến ngày 01/5/2022) hai b n có làm h p ng thu ất giá thu là 110.000.000 ng ư c thanh toán làm 02 lần: Lần 1: ngày 01/11/2021 là 55.000.000 ng, lần 02: ngày 01/5/2022 là 55.000.000 ng có ông T, bà L và con là Anh Thư ký t n. Đến mãn h p ng ông T, bà L trả ư c 15.000.000 ng, anh M khởi kiện y u cầu hộ ông T trả tiền thu ất và di dời nhà trả ất. Ông T không ng ý cho rằng v ch ng ông có n ông M, bà H2 451.000.000 ng tiền hụi n n ông T ký giấy ủy quyền cho bà H2 vay giùm 500.000.000 ng mỗi tháng trả bà H2 15.000.000 ng tiền lãi, ông T bà L óng cho bà H2 ư c 01 tháng tiền lãi là 15.000.000 ng n n ông T, bà L không ng ý theo y u cầu khởi kiện của ông M mà y u cầu phản tố y u cầu hủy h p ng chuyển như ng ất ngày 03/4/2021 giữa ông M và ông T.

Nhận thấy tòa án cấp sơ thẩm nhận ịnh h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất giữa ông Nguyễn Văn M và ông Trà Văn T ối với thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang lập ngày 03/4/2021 tại Văn phòng C1 tỉnh Tiền Giang là vô hiệu do giả tạo theo quy ịnh tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự là chưa xem xét ánh giá hết toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong h sơ. Bởi lẽ trước khi ông T ký h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang tại Phòng C, tỉnh Tiền Giang cho ông M thì ngày 21/02/2021 AL ông Trà Văn T, v Nguyễn Thị L con là Trà Thị Anh T1 có làm giấy tay bán ất cho ông Nguyễn Văn M, bà H Thị H2 có nội dung chúng tôi có chuyển như ng cho ông Nguyễn Văn M và bà H Thị H2 thửa ất 136, tờ bản 39, diện tích 1.176m2 ịa chỉ ấp T xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Gia ình chúng tôi cam kết không có tranh chấp về sau và hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc, giá chuyển như ng là 500.000.000 ng. Tr n thửa ất có 01 ngôi nhà ư c lưu cư ở lại 01 năm sẽ di dời nhà, tính từ ngày chuyển như ng ất cho ông M”. Đ ng thời sau khi ông M ư c ứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng thì ông M cho ông T, bà L và con là Anh T1 thu lại thửa ất tr n thời hạn là 01 năm giá là 110.000.000 ng tiền ư c thanh toán làm 02 lần: Lần 1: ngày 01/11/2021 là 55.000.000 ng, lần 02: ngày 01/5/2022 là 55.000.000 ng hai b n có làm h p ng có ông T, bà L và con là Anh Thư ký t n. Ông T, bà L và chị T1 khi ký h p ng chuyển như ng ất và h p ng thu quyền sử dụng ất cho ông M có ầy ủ năng lực hành vi dân sự trong giấy tay bán ất còn ghi chúng tôi cam kết ất không có tranh chấp về sau và hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc, tr n ất có 01 căn nhà xin lưu cư 01 năm sẽ di dời nhà. Nay ông T, bà L, chị T1 lại cho rằng việc chuyển như ng ất của ông T và ông M là ông bà không biết mà ông bà chỉ ủy quyền cho ông M vay tiền như nhận ịnh tr n là không có căn cứ. Hơn nữa giá chuyển như ng thửa ất vào tháng 4/2021 là 500.000.000 ng ến khi tranh chấp theo bi n bản Hội ng ịnh giá huyện C ngày 21/9/2022 là 796.000.000 ng là cũng không ch nh lệch lớn so với thời iểm chuyển như ng. Do ó Hội ng xét xử xác ịnh h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất diện tích ất 1.176m2 ịa chỉ ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang lập ngày 03/4/2021 tại Phòng C tỉnh Tiền Giang giữa ông M và ông T là có thật.

Việc anh M cho rằng ã ch ng ủ cho ông T, bà L số tiền 500.000.000 là có căn cứ. Bởi vì ông T, bà L và chị T1 thừa nhận ã thiếu tiền hụi của ông M, bà H2 là 451.000.000 ng, nhưng tiền hụi óng dần theo tháng ến khi hụi mãn thì không thể nhờ anh M, chị H2 vay giùm 500.000.000 ng ể trả tiền hụi mà còn phải óng tiền lãi Ngân hàng mỗi tháng 15.000.000 ng hơn số tiền óng hụi hàng tháng mà số n vẫn còn thiếu 500.000.000 ng. Việc trình bày này của ông T, bà L, chị T1 không ư c ông M, bà H2 thừa nhận. Hơn nữa nếu ông T, bà L không nhận 500.000.000 ng sau khi làm giấy tay chuyển như ng ất ngày 21/02/2021 A thì không thể nào ến ngày 03/4/2021 ông T ra công chứng làm h p ng chuyển như ng cho ông M và không thể nào ến ngày 01/5/2021 hộ ông T, bà L, chị T1 lại làm giấy thu diện tích ất tr n của ông M trong thời hạn 01 năm. Do ó có căn cứ là ông M ã trả cho ông T, bà L số tiền chuyển như ng ất là 500.000.000 ng. Số tiền bà L thừa nhận có trả cho ông M 15.000.000 ng như ông M trình bày là tiền cho thu lại diện tích ất là có căn cứ.

Đối với h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất diện tích ất 1.176m2 ịa chỉ ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang lập ngày 03/4/2021 tại Phòng C tỉnh Tiền Giang giữa ông M và ông T về mặt hình thức là úng quy ịnh. Tuy nhi n tr n ất có 01 căn nhà của cụ Đoàn Thị H nhà tình nghĩa ư c cấp vào năm 2002 theo quyết ịnh số: 77/QĐ-UB ngày 22/5/2002 của UBND huyện C. Khi ông T chuyển như ng ất cho ông M tr n ất có căn nhà của cụ H mà không có sự ng ý của cụ H. Tuy nhi n theo giấy tay chuyển như ng ất ngày 21/02/2021 là hộ ông T g m ông T, bà L và chị T1 xin ư c lưu cư trong thời hạn 01 năm sẽ di dời nhà giao ất cho ông M là không thực hiện ư c. Do ó h p ng chuyển như ng ất quyền sử dụng ất giữa ông M và ông T lập ngày 03/4/2021 tại Phòng C2 tỉnh Tiền Giang là vô hiệu do ối tư ng không thực hiện ư c theo Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015 n n h p ng thu quyền sử dụng ất giữa ông M và hộ ông T lập ngày 01/5/2021 cũng bị vô hiệu. Do ó ông M y u cầu khởi kiện y u cầu hộ ông T di dời nhà trả ất và trả tiền thu ất 95.000.000 ng là không có căn cứ.

Xét y u cầu phản tố của bị ơn y u cầu tuy n bố h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất ký kết giữa ông Trà Văn T với ông Nguyễn Văn M, thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ư c Phòng C, tỉnh Tiền Giang, công chứng ngày 03/4/2021 và tuy n bố H p ng thu ất ngày 01/5/2021, xác lập giữa ông Nguyễn Văn M với ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H là vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm xác ịnh vô hiệu do giả tạo là không phù h p như nhận ịnh tr n mà h p ng chuyển như ng ất này vô hiệu do có ối tư ng không thực hiện ư c.

Xuất phát từ giấy tay bán ất ngày 21/02/2021 AL ông T, bà L và chị T1 chuyển như ng cho ông M, bà H2 phần ất tr n dẫn ến ông T ký h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất cho ông M lập ngày 03/4/2021 tại Phòng C, tỉnh Tiền Giang. Tòa án cấp sơ thẩm tuy n hủy h p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất giữa ông M và ông T lập ngày 03/4/2021 mà không xem xét ến giấy tay bán ất ngày 21/02/2021AL ông T, bà L và chị T1 ể hủy mà hiện nay vẫn còn t n tại là thiếu sót.

Tuy nhi n ối với bị ơn có y u cầu phản tố y u cầu tuy n H p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất ký kết giữa ông Trà Văn T với ông Nguyễn văn M1, ư c Phòng C, tỉnh Tiền Giang công chứng ngày 03/4/2021 vô hiệu thì phải giải quyết hậu quả của h p ng:

Như vậy, xét về lỗi của h p ng vô hiệu do có ối tư ng không thực hiện ư c là ông M1 và hộ ông T ều có lỗi ngang nhau. Bởi vì tr n ất có 01 ngôi nhà của cụ Đoàn Thị H nhưng khi chuyển như ng không có sự ng ý của cụ H. Theo bi n bản Hội ng ịnh giá huyện C ngày 21/9/2022 giá trị chuyển như ng quyền sử dụng ất là 796.000.000 ng trừ vào tiền chuyển như ng 500.000.000 ng phần ch nh lệch giá là 296.000.000 ng lỗi cả hai thì mỗi người chịu là 148.000.000 ng. Buộc ông T, bà L và chị T1 có nghĩa vụ trả cho ông M1, bà H2 là 648.000.000 ng.

Từ những phân tích n u tr n, Hội ng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị xem như có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do sửa án sơ thẩm n n ông M1 không phải chịu án phí phúc thẩm.

Ý kiến Luật sư bảo vệ quyền và l i ích h p pháp cho bị ơn không phù h p nhận ịnh tr n n n không chấp nhận. Ý kiến của ại diện Viện kiểm sát phù h p với nhận ịnh tr n n n chấp nhận.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tụng dân sự;

Căn cứ các iều 115, 117, 122, 166, 408, 500 và 501 của Bộ luật Dân sự; Điều 166 của Luật Đất ai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 235/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

1. Không chấp nhận y u cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M về y u cầu ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H có nghĩa vụ li n ới trả cho ông M số tiền thu còn thiếu là 95.000.000 ng, trả 01 lần sau khi án có hiệu lực pháp luật và y u cầu ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H phải di dời dùng cá nhân i nơi khác, ể trả lại cho ông M thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ư c Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất ngày 18/03/2013, ông M ã nhận chuyển như ng, ư c cập nhật vào ngày 14/4/2021, do ông M ứng t n tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng ất.

2. Chấp nhận 01 phần y u cầu phản tố của bà Nguyễn Thị L.

Tuy n bố H p ng chuyển như ng quyền sử dụng ất ký kết giữa ông Trà Văn T với ông Nguyễn Văn M, thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ư c Phòng C, tỉnh Tiền Giang, công chứng ngày 03/4/2021 là vô hiệu.

Tuy n bố giấy tay chuyển như ng quyền sử dụng ất ký kết giữa ông Trà Văn T với ông Nguyễn văn M1, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 thửa ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ư c Phòng C, tỉnh Tiền Giang, công chứng ngày 21/02/2021AL là vô hiệu.

Tuy n bố H p ng thu ất ngày 01/5/2021, xác lập giữa ông Nguyễn Văn M với ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L, chị Trà Thị Anh T1 và bà Đoàn Thị H là vô hiệu.

Buộc ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L và chị Trà Thị Anh T1 li n ới hoàn trả cho ông Nguyễn Văn M và bà H Thị H2 số tiền là 648.000.000 ng.

Thời gian trả tiền khi án có hiệu lực pháp luật.

3. Ông Trà Văn T ư c li n hệ với cơ quan có thẩm quyền ể ư c cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số 136, tờ bản số 39, diện tích 1.176m2, tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Kể từ ngày có ơn y u cầu thi hành án của người ư c thi hành án ( ối với các khoản tiền phải trả cho người ư c thi hành án) cho ến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng b n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy ịnh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Nguyễn Văn M phải chịu 5.050.000 ng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn M ã tạm nộp 2.975.000 ng tạm ứng án phí theo các bi n lai thu số 0016466 ngày 15/7/2022 và bi n lai thu số 0018069 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, n n ông M còn phải nộp tiếp 2.075.000 ng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Trà Văn T, bà Nguyễn Thị L và chị Trà Thị Anh T1 phải chịu 29.920.000 ng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường h p bản án, quyết ịnh ư c thi hành theo qui ịnh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người ư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui ịnh tại các iều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án ư c thực hiện theo qui ịnh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuy n án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ