vanban.org

Bản án 103/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp bị cáo Nguyễn Văn N thay đổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về an toàn lao động - phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 103/2023/HS-ST
Ngày 13 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn

2. Ông Tô Văn Nhung

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXX-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1992 tại tỉnh H; thƣờng trú: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh H; nghề nghiệp: Kỹ sƣ xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Lê Thị D, sinh năm 1973; vợ tên Nguyễn Thị C, sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2020; có 01 em ruột, sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 13/9/2022 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Lê Thị H, sinh năm 1983 (đã chết).

Ngƣời đại diện hợp pháp:

+ Ông Lê Văn K, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyện T, tỉnh H. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

+ Anh Lê Quang H, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyện T, tỉnh H. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

+ Cháu Lê Quang T, sinh ngày 27/02/2010; địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyện T, tỉnh H. Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn K, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyện T, tỉnh H. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Phạm Sỹ M, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 372/5 đƣờng Lý Thƣờng Kiệt, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Có mặt.

+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh H. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

+ Chị Vũ Thị T, sinh năm 1974; địa chỉ: Số 13B, Lê Văn C, phƣờng T, thành phố Đ, Thành phố M. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng: Quách Văn L, sinh năm 1992. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn N là giám đốc Công ty TNHH xây dựng X, địa chỉ: số 9/2 đƣờng số 3, khu phố 1, phƣờng Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, ngành nghề kinh doanh: Xây dựng công trình dân dụng - công nghiệp. Có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/9/2019.

Ngày 25/3/2022, Công ty TNHH xây dựng X có ký hợp đồng xây dựng số: 02/2022/XHV/HDKT với chị Vũ Thị T để xây dựng căn nhà ở cấp 4 tại địa chỉ: Ô 5, Lô M3, đƣờng D5, khu nhà ở thƣơng mại Phú Hồng Thịnh 6, khu phố Nội Hóa 2, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, hợp đồng xác định công trình đƣợc khởi công xây dựng từ ngày 01/4/2022 đến ngày 25/8/2022 thì hoàn thành, bàn giao nhà.

Quá trình thi công, công ty TNHH X, đại diện pháp nhân Nguyễn Văn N là chủ thầu phải xuyên suốt, chịu trách nhiệm tổ chức giám sát, thi công, chịu trách nhiệm việc thực hiện đảm bảo về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Tuy nhiên khi xây dựng thi công công trình này, Công ty TNHH xây dựng X giao khoán thi công cho ông Phạm Sỹ M tiến hành thi công hạng mục phần thô và phần hoàn thiện dƣới sự giám sát thi công của Công ty X và sự chỉ đạo của Nguyễn Văn N.

Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 10/5/2022, chị Lê Thị H là công nhân do anh Phạm Sỹ M thuê mƣớn trả công hàng ngày (không có hợp đồng lao động) đang làm việc tại khu vực phía mặt trƣớc, mặt sàn tầng 3 sân thƣợng của công trình xây dựng nhà ở cấp 4 tại địa chỉ: Ô 5, Lô M3, đƣờng D5, khu nhà ở thƣơng mại Phú Hồng Thịnh 6, khu phố Nội Hóa 2, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng (tầng 3 có chiều cao khoảng 10,8 m) do bất cẩn trong lúc dọn dẹp, vệ sinh công trình thì rơi từ tầng 3 xuống đất, chị H đƣợc mọi ngƣời đƣa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng nhƣng đã tử vong.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trƣờng vụ tai nạn lao động vào lúc 20 giờ 50 phút ngày 10/5/2022, tại khu nhà ở thƣơng mại Phú Hồng Thịnh 6, khu phố Nội Hóa 2, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, thể hiện:

- Hiện trƣờng là nhà ở đang trong quá trình xây dựng phần thô, thuộc khu nhà ở thƣơng mại Phú Hồng Thịnh 6, khu phố Nội Hóa 2, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Nhà có kết cấu 01 trệt 03 lầu, kích thƣớc 5 x 14, mặt tiền quay ra hƣớng đƣờng N5.

- Nhà có 03 lầu, cao nhất tính tới sàn đỗ bê tông cách mặt đất là 10,8m, mỗi tầng cao 3,4m.

- Trên tầng 03 phía ngoài có để 02 cây chống cột chéo để chịu dây ròng rọc kéo vật liệu từ dƣới lên. Kiểm tra trên sàn bê tông tầng 03 thấy có nhiều gạch, ván đổ bê tông chất thành đống, xe rùa, cát, thấy có 01 cây chổi chà quét cát trên sàn phía trƣớc tầng 03 không có lan can bảo vệ.

- Phía dƣới trƣớc nhà là hành lan đƣờng bộ rộng 2,8 m. Tại vị trí trên hành lan cách nhà 02 mét phía bên trái (từ ngoài nhìn vào) đƣợc xác định là nơi nạn nhân Huệ té ngã từ tầng 03 xuống.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 465/GDPY ngày 12/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, tại mục IV phần kết luận nêu;

Dấu hiệu chính qua giám định: Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngoài. Gãy nhiều xƣơng sƣờn. Dập rách hai phổi. Vỡ tim, vỡ gan. Khoang màng phổi và ổ bụng chứa 2700ml máu.

Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Lê Thị H là đa chấn thƣơng.

Ngày 13 tháng 9 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can để điều tra đối với Nguyễn Văn N về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 14 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 295; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn N đại diện Công ty TNHH xây dựng X và anh Phạm Sỹ M đã bồi thƣờng cho gia đình bị hại số tiền 220.890.000 đồng. Các bên đã thống nhất về phần bồi thƣờng dân sự, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thời bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Nguyễn Văn N (là giám đốc Công ty TNHH xây dựng X) là ngƣời chịu trách nhiệm chính nhận thi công và giám sát Công trình xây dựng nhà ở cấp 4 tại địa chỉ: Ô 5, Lô M3, đƣờng D5, khu nhà ở thƣơng mại Phú Hồng Thịnh 6, khu phố Nội Hóa 2, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Do quá trình thi công Nguyễn Văn N không có giải pháp an toàn bằng lan can, không lắp đặt lƣới chắn bảo vệ và chị Lê Thị H là ngƣời lao động không thắt dây an toàn trong quá trình làm việc, nên ngày 10/5/2022 để xảy ra tai nạn lao động làm chị Lê Thị H tử vong. Nguyễn Văn N đã không tuân thủ quy định tại QCVN18:2014/BXD “quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn trong xây dựng”, dẫn đến tai nạn lao động.

Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Do đó, Cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 14 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định Điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã vi phạm các quy định về an toàn lao động, về bảo hộ lao động, xâm phạm tính mạng của công dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thƣờng khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt thể hiện bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự và là ngƣời lao động, đang nuôi con nhỏ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kể từ khi đƣợc áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Bị cáo có đủ điều kiện đƣợc hƣởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú cũng không ảnh hƣởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phƣơng. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cho hƣởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn N đã thỏa thuận bồi thƣờng tiền chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 295; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp bị cáo Nguyễn Văn N thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú: 19/2023/HSST-LCĐKNCC ngày 16 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ