- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Khương D "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hoàng Khương D 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tai sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2023.
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BG TỈNH BG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2023/HS-ST Ngày 27-6-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương TH1.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Hồng.
2. Ông Nguyễn Văn Môn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố BG.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh BG và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh BG, Tòa án nhân dân thành phố BG xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Khƣơng D, sinh năm 1986 tại huyện YT, tỉnh BG; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ dân phố Ch, thị trấn PX, huyện YT, tỉnh BG; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Minh H, sinh năm 1958 và bà Lê Thị Th, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 (đã ly hôn);
- Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 55 ngày 16/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh BG xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”; chấp hành xong án phạt tù ngày 21/4/2014, chưa chấp hành án phí HSST và hình phạt bổ sung.
- Tiền sự: Năm 2021, Tòa án nhân dân huyện YT, tỉnh BG ra quyết định đi cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng; chấp hành xong ngày 01/12/2022.
- Nhân thân:
+ Ngày 21/5/2009, Công an thành phố BG xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 03/01/2012, Công an thành phố BG xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 11/8/2014, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã PX, huyện YT quyết định quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình thời hạn 06 tháng.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 08 ngày 26/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện YT, tỉnh BG xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích.
+ Ngày 12/02/2020, Công an huyện YT xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
+ Ngày 15/10/2021 bị Công an thị trấn AC, huyện SĐ, tỉnh BG xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BG.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại:
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1952.
Địa chỉ: Số nhà 4, ngách 38, đường Vương Văn Tr, phường Trần Nguyên H, thành phố BG, tỉnh BG.
(Vắng mặt)
- Ông Dương Văn C, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Số nhà 118, đường Nguyễn Văn C1, phường LL, thành phố BG, tỉnh BG.
(Vắng mặt)
- Bà Cao Thị H, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Số nhà 20, ngõ 218, đường LL, phường LL, thành phố BG, tỉnh BG.
(Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1955.
Địa chỉ: Số nhà 51, tổ dân phố số 3, đường MĐ, phường MĐ, thành phố BG, tỉnh BG.
(Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số nhà 13, ngõ 218, đường LL, phường LL, thành phố BG, tỉnh BG.
(Vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Số nhà 275, đường Nguyễn Công Hg, phường Trần Nguyên H, thành phố BG, tỉnh BG.
(Vắng mặt)
- Bà Thân Thị B, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Số nhà 264, đường MĐ, phường MĐ, thành phố BG, tỉnh BG.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/02/2023, Hoàng Khương D, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố Ch, thị trấn PX, huyện YT, tỉnh BG thuê trọ tại gia đình ông Đỗ Văn M, sinh năm 1939 ở số nhà 17, ngõ 102, đường Nguyễn Văn C, phường LL, thành phố BG mục đích để đi tìm việc làm tại thành phố BG. Do chưa tìm được việc làm và không có tiền chi tiêu nên từ ngày 20/02/2023 đến ngày 25/02/2023, D đã liên tiếp thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố BG, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 20/02/2023, Hoàng Khương D đi bộ đến trước cửa số nhà 108, đường LL, thành phố BG thì nhìn thấy có một chiếc xe đạp mini, màu hồng sữa, có giỏ xe màu ghi xám dựng ở trước cửa nhà. Chiếc xe đạp này là của bà Lê Thị L, sinh năm 1952, trú tại số nhà 04, ngách 38, đường Vương Văn Tr, phường Trần Nguyên H, thành phố BG để ở đó, xe không có khóa. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, D đi đến quay đầu xe hướng ra đường rồi ngồi lên xe đạp đi. Sau đó, D đạp xe đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968, trú tại số nhà 275, đường Nguyễn Công Hg, phường Trần Nguyên H, thành phố BG bán được 120.000 đồng. Bà V bán lại cho người thu mua sắt vụn nên không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 01/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BG kết luận: Chiếc xe đạp mini, màu sơn hồng, giỏ xe bằng nhựa, màu ghi bạc, mua mới năm 2020, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 20/02/2023 là 500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 23/02/2023, Hoàng Khương D đi bộ đến số nhà 118, đường Nguyễn Văn C, thành phố BG thì nhìn thấy một chiếc xe đạp, loại xe đầu bằng, có giỏ xe bằng nhựa màu ghi xám dựng trên vỉa hè, xe không có khóa. Chiếc xe đạp này là của ông Dương Văn C, sinh năm 1959 dựng ở trước cửa nhà. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, D đi đến nhấc chiếc xe quay đầu hướng ra ngoài đường rồi ngồi lên xe đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị V bán được 100.000 đồng. Bà V bán lại cho người thu mua sắt vụn nên không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 01/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BG kết luận: Chiếc xe đạp mini, màu sơn xanh rêu, giỏ xe bằng nhựa, mua mới năm 2004, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 23/02/2023 là 100.000 đồng
Vụ thứ ba: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, Hoàng Khương D đi bộ đến trước cửa số nhà 96, ngõ 134, đường LL, phường LL, thành phố BG thì nhìn thấy có một chiếc xe đạp mini màu xanh, có giỏ xe. Chiếc xe này là của bà Cao Thị H, sinh năm 1962, trú tại số nhà 20, ngõ 218, đường LL, phường LL, thành phố BG dựng ở đó. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, D đi đến nhấc chiếc xe quay đầu hướng ra ngoài đường rồi ngồi lên xe đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị V bán được số tiền 100.000 đồng. Bà V bán lại cho người thu mua sắt vụn nên không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 01/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BG kết luận: Chiếc xe đạp mini, màu sơn xanh dương, giỏ xe bằng nhựa, mua mới năm 2020, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 24/02/2023 là 400.000 đồng.
Vụ thứ tƣ: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/02/2023, Hoàng Khương D đi bộ đến trước cửa số nhà 44, ngõ 169, đường Huyền Quang, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố BG thì nhìn thấy một chiếc xe đạp mini nH hiệu Kama, màu xanh, có giỏ xe bằng nhựa, màu xám. Chiếc xe này là của bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1955, trú tại số nhà 51, tổ dân phố số 3, phường MĐ, thành phố BG dựng ở đó. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, D đi đến lùi xe ra đường rồi ngồi lên xe đạp đi. D đi xe đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị V bán được 100.000 đồng. Bà V bán lại cho người thu mua sắt vụn nên không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 01/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BG kết luận: Chiếc xe đạp mini nH hiệu Kama, màu sơn xanh ngọc, mua mới năm 2021, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 25/02/2023 là 1.400.000 đồng
Vụ thứ năm: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 25/02/2023, Hoàng Khương D đi bộ đến phía sau trường mầm non LL 2 thì nhìn thấy có một chiếc xe đạp mini nH hiệu V Hùng, màu xanh ngọc, có giỏ xe, đầu giỏ xe có 01 khóa dây. Chiếc xe này là của bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972 ở số nhà 13 ngõ 218 đường LL, phường LL, thành phố BG dựng ở đó. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, D đi đến lùi xe quay đầu hướng ra ngoài đường rồi ngồi lên xe đạp đi. D đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Thân Thị B, sinh năm 1965, trú tại số nhà 264, đường MĐ, phường MĐ, thành phố BG bán được số tiền 100.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 01/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố BG, kết luận: 01 chiếc xe đạp mini nH hiệu V Hùng, màu sơn xanh ngọc, mua mới năm 2020, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 25/02/2023 là 800.000 đồng.
Sau khi bị mất tài sản, những người bị hại có đơn trình báo. Ngày 26/2/2023, Cơ quan điều tra triệu tập thì D xin đầu thú và khai nhận trộm cắp 05 vụ nêu trên sau đó đem đi bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng và chi tiêu hết. Cơ quan điều tra cho D xác định hiện trường các vụ trộm cắp tài sản. Kết quả D xác định đúng vị trí, địa điểm thực hiện các vụ trộm cắp.
Ngày 26/02/2023, bà Thân Thị B giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe đạp mini, nH hiệu V Hùng, màu sơn xanh. Cơ quan điều tra đã cho bị can D nhận dạng ảnh chiếc xe đạp do bà B giao nộp. Kết quả D xác định là chiếc xe đạp do D trộm cắp đem đi bán.
Cơ quan điều tra đã thu giữ và trưng cầu giám định các file video do anh Bùi Đăng Dũng, ông Dương Văn C và bà Nguyễn Thị H1 giao nộp ghi lại hình ảnh Hoàng Khương D trộm cắp tài sản.
Bản kết luận giám định số 710/KL-KTHS ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BG kết luận:
1- Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video có tên "7916772024428070499.mp4"; dung lượng: 1,0 MB; thời lượng 41 giây lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD-R nH hiệu Maxell, màu cam gửi giám định.
2- Không xác định được nội dung hình ảnh trong 02 (hai) file video có tên: "7105899112862562965.mp4" và "8474504875737012216.mp4" lưu trữ trong 02 (hai) đĩa DVD-R nH hiệu Maxell, màu cam gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không, không tiến hành trích xuất hình ảnh, do hình ảnh được ghi lại nội dung từ màn hình của thiết bị.
3- Trích xuất được 20 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong file video gửi giám định có tên "7916772024428070499.mp4".
Ngày 09/3/2023, Cơ quan điều tra đã cho bị can Hoàng Khương D xem 03 file video đã thu giữ. Kết quả D xác định có hình ảnh D một mình thực hiện 03 vụ trộm cắp xe đạp.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp cho bà Nguyễn Thị H1. Những người bị hại và bà Thân Thị B đều không yêu cầu Hoàng Khương D bồi thường.
Đối với bà Nguyễn Thị V mua 04 chiếc xe đạp; bà Thân Thị B mua 01 chiếc xe đạp do Hoàng Khương D đem đến bán nhưng đều không biết là tài sản do D trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với Hoàng Khương D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của D dương tính với Heroin. Do vậy, Công an thành phố BG ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Đối với người đàn ông mà D khai đã bán ma túy cho D tại đường đê Chi Ly, phường Trần Phú, thành phố BG. Do D không biết thông tin về người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Tại Bản cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG, tỉnh BG đã truy tố bị cáo Hoàng Khương D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Khương D từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố BG, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 20/02/2023 đến ngày 25/02/2023, Hoàng Khương D đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản gồm 05 chiếc xe đạp của bà Lê Thị L, ông Dương Văn C, bà Cao Thị Hoà, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị H1 đều trên địa bàn thành phố BG. Hành vi trộm cắp của D được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về thời gian nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của 5 vụ trộm cắp là 3.200.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội và về nhân thân: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì lợi ích trước mắt, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 2 lần bị xét xử về hình sự, 04 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn để giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo tự nguyện xin đầu thú. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với bà Nguyễn Thị V mua 04 chiếc xe đạp; bà Thân Thị B mua 01 chiếc xe đạp do Hoàng Khương D đem đến bán nhưng đều không biết là tài sản do D trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
Đối với Hoàng Khương D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của D dương tính với Heroin. Do vậy, Công an thành phố BG ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đảm bảo quy định.
Đối với người đàn ông mà D khai đã bán ma túy cho D tại đường đê Chi Ly, phường Trần Phú, thành phố BG. Do D không biết thông tin về người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Khương D 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tai sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2023.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh BG - VKSND thành phố BG; - CQCSĐT-CA TP BG; - TAND tỉnh BG; - Chi cục THADS TP BG; - Sở tư pháp; - Các bị cáo; - UBND TT.PX, h.YT, BG; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phƣơng TH1 |