- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Luận - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Phạm Văn L 01 năm 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ: 30-6-2023.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2023/HS-ST Ngày: 31 - 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Cận;
- Ông Nguyễn Ngọc Giao.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn L; sinh năm 1980 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L1 (đã chết) và bà Doãn Thị M; vợ Nguyễn Thị M1(đã ly hôn); có 02 con; nhân thân: Ngày 14/4/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 29-8-2017. Bị bắt tạm giữ ngày 30-6- 2023, chuyển tạm giam từ ngày 06-7-2023 đến nay; bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G; “có mặt”.
Người chứng kiến:
Ông Doãn Văn N “vắng mặt”;
Ông bùi Văn T “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h00’ ngày 30- 6- 2023, Tổ tuần tra gồm Công an xã B; công an xã G; Công an xã G làm nhiệm vụ tại trục đường thuộc xóm D xã B, huyện G phát hiện Phạm Văn L điểu khiển xe máy BKS: 18S3 - 0095 có biểu hiện nghi vấn, tổ tuần tra yêu cầu kiểm tra hành chính đối với L, nhưng L vẫn tiếp tục điều khiển xe đến trục đường thuộc xóm S xã G thì dừng lại. Tổ tuần tra đuổi theo L yêu cầu kiểm tra hành chính đối với L. Quá trình kiểm tra Phạm Văn L đã tự giác giao nộp 01 gói nhỏ được gói bằng vở ô ly màu trắng, bên trong có chưa chất bột dạng cục màu trắng, L khai nhận là heroin cất giấu, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tại Bản kết luận giám định số 1048/KL/GĐKTHS ngày 05-7-2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy vở ô ly màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu: 0,146gam.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 02-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. xử phạt Phạm Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã hoàn trả sau giám định. Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án để tuyên án phí đối với bị cáo.
Bị cáo Phạm Văn L thừa nhận hành vi đã nêu, không bào chữa, tranh luận gì, ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30-6-2023, Phạm Văn L đã cất giữ trái phép 0,146 gam heroine để sử dụng cho bản thân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố bị cáo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Về nhân thân,các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm Văn L đã từng bị kết án, lần phạm tội này đã được xóa án tích nên bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định của Bộ Luật hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, đủ tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân nghiện may túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ trong vụ án là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
Về nguồn gốc số heroine: Quá trình điều tra không đủ căn cứ kết luận ai là người bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở xem xét.
Đối với chiếc xe máy BKS 18S3 – 0095 đã thu giữ của Phạm Văn L. Quá trình điều tra chưa xác định được nguồn gốc chiếc xe nên Cơ quan CSĐT đã ra để đều tra xử lý sau là phù hợp.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn L bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Phạm Văn L có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Phạm Văn L 01 năm 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ: 30-6-2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định (ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 03/2023 ngày 02-10-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo - TAND tỉnh Nam Định; - Công an huyện Giao Thủy; - VKSND huyện Giao Thủy; - VKSND tỉnh Nam Định; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ |