vanban.org

Bản án 103/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Lê Anh T

Về con: Công nhận cháu cháu Lê Minh T1 - SN 20/7/2005 (đã thành niên) và cháu Lê Thị Thùy T2 - SN 25/10/2009 là con chung của B và anh T. Giao cháu T2 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung Anh Tuấn có quyền đi lại thăm nom con chung, không được ai cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Lê Anh T
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự giải; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08/9/2023
V/v : Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên

Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên. Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 325/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B - Sinh năm 1979 “có mặt”

ĐKHK: SN 02/214 N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Lê Anh T - Sinh năm 1978 “vắng mặt”

ĐKHK: SN 02/214 N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: Nơi ở hiện nay: SN F đường Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

[ơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày: Về hôn nhân: Chị và anh Lê Anh T kết hôn với nhau vào năm 2004, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm cách sống khác nhau và do anh T rượi chè, không chịu làm ăn, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên chửi bới, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 6/2023 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Anh T. Về con: Anh chị có 02 con chung: cháu Lê Minh T1 - SN 20/7/2005 và cháu Lê Thị Thùy T2 - SN 25/10/2009. Do cháu T1 sắp thành niên cháu nên quan điểm của chị cháu ở với ai do cháu quyết định, chị xin được nuôi cháu T2 và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án,Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn anh Lê Anh T theo quy định của pháp luật nhưng anh T không đến Tòa án để tự khai cũng như tham gia phiên hòa giải.

Tại phiên tòa hôm nay chị B vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh T vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành của nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt là đúng quy định.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố T. Do đó, Tòa án thành phố T thụ lý và giải quyết là đúng quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh T để tham gia phiên tòa tuy nhiên anh T vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt anh T là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Lê Anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Qua xác minh tại địa phương thể hiện: anh chị chung sống có xảy ra mâu thuẫn như thế nào địa phương không biết nhưng khoảng tháng 2/2023 cho đến nay thì chị B đã đi nơi khác ở

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T để tham gia tố tụng nhưng anh đều vắng mặt. Điều đó cho thấy anh không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Lê Anh T là phù hợp.

Về con: Anh chị có 02 con chung, cháu Lê Minh T1, sinh ngày 20/7/2005 hiện cháu đã thành niên, còn cháu Lê Thị Thùy T2 - SN 25/10/2009 chị B xin được nuôi cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Xét thấy, chị B có công việc và thu nhập ổn định hơn nữa cháu T2 là con gái, cháu có nguyện vọng xin được ở với chị B nên giao cháu cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về mức cấp dưỡng: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị B không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Xét yêu cầu của chị là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Về tài sản, công nợ: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/QH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Lê Anh T

Về con: Công nhận cháu cháu Lê Minh T1 - SN 20/7/2005 (đã thành niên) và cháu Lê Thị Thùy T2 - SN 25/10/2009 là con chung của B và anh T. Giao cháu T2 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung

Anh Tuấn có quyền đi lại thăm nom con chung, không được ai cản trở.

Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị B phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai số AA/2021/0003094 ngày 09/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa (chị B đã nộp đủ án phí).

Chị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kêt từ ngày tuyên án. Anh T3 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ