vanban.org

Bản án 103/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: chị Bàn Thị T được ly hôn với anh Thạch Văn N. 2 Về con chung: giao cho anh Thạch Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Thạch Bảo K, sinh ngày 30-9-2013 cho đến khi đủ 18 tuổi. Giao cho chị Bàn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị T ly hôn anh N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-8-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Mai

Bà Lê Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n L c ên, t nh ên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lý Văn Tầm – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 187/2023/TLST–HNGĐ ngày 27-6-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16-8-2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Bàn Thị T – sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn X 1, xã Tân L, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (vắng m t, có lý do)

2. Bị đơn: anh Thạch Văn Ninh – sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn Xi 1, xã Tân L, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (vắng m t, không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27-6-2023, các lời khai tiếp theo nguyên đơn Bàn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Thạch Văn N kết hôn vào ngày 16-11-2012 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Tân L, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N có hành vi bạo lực gia đình và mẫu thuẫn về kinh tế gia đình. Vợ chồng sống ly thân 04 năm nay, không quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm không còn, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: chị và anh N có 02 con là Thạch B, sinh ngày 30-9-2013 và Thạch T, sinh ngày 10-02-2015. Sau khi ly hôn, chị có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con Thạch T, còn anh Ninh trực tiếp nuôi dưỡng con Thạch B, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Thính không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến bị đơn Thạch Văn N nhưng anh N không có m t. Tòa án đã lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến cho rằng trong quá trình tố tụng, Tòa án và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử về nội dung vụ án như sau:

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Về quan hệ hôn nhân: giải quyết cho chị Bàn Thị T được ly hôn với anh Thạch Văn N.

Về con chung: giao con Thạch Bảo K cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Thạch Thị T cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật số tiền: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng m t, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng m t, không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng m t các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2] Về quan hệ hôn nhân: chị Bàn Thị T và anh Thạch Văn N có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2012 ngày 16-11-2012. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình, do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu c u ly hôn của nguyên đơn: qua lời khai của nguyên đơn quá trình chung sống thực tế vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn kéo dài không thể khắc phục được, vợ chồng sống ly thân bốn năm nay, không quan tâm đến nhau. Lời khai của nguyên đơn là phù hợp với nội dung biên bản xác minh của Tòa án tại Thôn X 1, xã Tân Lập, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Theo nội dung đơn đề nghị xét xử vắng m t, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Xét thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn, có căn cứ chấp nhận.

3] Về con chung: chị T và anh N có 02 con là Thạch Bảo K, sinh ngày 30-9-2013 và Thạch Thị T, sinh ngày 10-02-2015, căn cứ lời khai của nguyên đơn và kết quả xác minh của Tòa án xác định hiện tại cháu K đang do anh N trực tiếp nuôi dưỡng và có nguyện vọng ở với bố, cháu Thảo đang do chị Thính trực tiếp nuôi dưỡng, có nguyện vọng ở với mẹ, các con có nơi ở và học tập ổn định.

Xuất phát từ lợi ích mọi m t và nguyện vọng của con chung, theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao con Thạch Bảo Kh cho anh N, giao con Thạch Thị T cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp.

Nguyên đơn không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4] Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5] Về án phí: chị Bàn Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

6 Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: chị Bàn Thị T được ly hôn với anh Thạch Văn N.

2 Về con chung: giao cho anh Thạch Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Thạch Bảo K, sinh ngày 30-9-2013 cho đến khi đủ 18 tuổi. Giao cho chị Bàn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Thạch Thị T, sinh ngày 10-02-2015 cho đến khi đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: chị Bàn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2022/0001020 ngày 27-6-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết công khai.

“Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t i §iÒu 2 luËt Thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t i §iÒu 6, 7 vµ 9 luËt Thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t i §iÒu 30 luËt Thi hµnh ¸n d©n sù”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ