vanban.org

Bản án 103/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ

phần Đ về việc yêu cầu bà Đặng Thị Hồng C trả phí thường niên duy trì thẻ với số tiền 160.000 (một trăm sáu mươi nghìn) đồng. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ và bị đơn bà Đặng Thị…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 103/2023/DS-ST
Ngày: 20-6-2023
“V/v tranh chấp hợp đồng dân
sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé;

2. Ông Trương Phước Công.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên toà: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 440/2022/TLST-DS ngày 08

tháng 12 năm 2022 về “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 141/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2023 và

Quyết định hoãn phiên tòa số 259/2023/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023,

giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (sau đay được viết tắt là

D Bank); địa chỉ trụ sở chính: số A, đường P, Phường A, quận P, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành L; chức

vụ: Nhân viên D Bank – Phòng Giao dịch C; địa chỉ: số B, đường N, thị trấn C,

huyện C, tỉnh An Giang; là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy

quyền số 163/QĐ-DAB-HĐQT ngày 08/8/2022 của Chủ tịch Hội đồng quản trị

D Bank và văn bản ủy quyền ngày 26/12/2022 của Giám đốc D Bank – Phòng

Giao dịch C); có mặt.

Bị đơn: Bà Đặng Thị Hồng C, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện

C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N; địa chỉ: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An

Giang; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết

vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng, D Bank – Phòng Giao dịch C và bà Đặng Thị Hồng C có ký kết hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018. Theo đó, Ngân hàng cho bà C vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh nhỏ lẻ, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 04/5/2018 đến hết ngày 04/5/2019 với hình thức tín chấp có bảo lãnh, lãi suất vay trong hạn là 10%/năm, lãi suất quá hạn 15%/năm, với phương thức thanh toán nợ gốc và lãi được bên vay trả góp liên tục 12 kỳ, bao gồm 11 kỳ trả mỗi kỳ 1.840.000 đồng và kỳ cuối trả 1.760.000 đồng.

Căn cứ hợp đồng tín dụng đã ký kết, Ngân hàng giải ngân bằng hình thức

chuyển khoản qua tài khoản của bà C mở tại Ngân hàng vào ngày 04/5/2018 và bà C đã nhận đủ số tiền vay 20.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 03/11/2022, bà C đã trả

cho Ngân hàng số tiền 14.000.000 đồng (gồm: nợ gốc 12.717.950 đồng, nợ lãi 1.282.050 đồng) và ngưng thanh toán từ ngày 15/8/2019 cho đến nay. Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 04/5/2019. Tính đến ngày 03/11/2022, bà C còn nợ lại Ngân hàng nợ gốc 7.282.050 đồng, nợ lãi trong hạn 717.950 đồng, nợ lãi quá hạn 4.793.000 đồng, phí thường niên duy trì thẻ 160.000 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu bà C thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng

khoản nợ theo hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018 với số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn tạm tính đến hết ngày 03/11/2022, phí thường niên duy trì thẻ là 12.953.000 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ còn lại theo mức lãi suất tại Hợp đồng tín dụng số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018, từ ngày 04/11/2022 đến ngày thanh toán xong nợ. Trường hợp đến hạn trả nợ, bà C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Nguyễn Hoàng P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà C.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ngày 19/01/2023, Ngân hàng rút lại một

phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bị đơn trả phí thường niên duy trì thẻ 160.000 đồng.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện là: Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số

007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018 (bản photo); Đề nghị vay vốn

kiêm phương án sử dụng vốn ngày 09/4/2018 (bản photo); Giấy đề nghị chi vay

góp qua tài khoản thẻ ngày 04/5/2018 (bản photo); Danh sách cho vay trả góp

giải ngân qua tài khoản thẻ ngày 04/5/2018 (bản photo) và các giấy tờ khác có

liên quan.

- Bị đơn bà Đặng Thị Hồng C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông

Nguyễn Hoàng P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà Nguyễn Thị Kim C1 đã được

triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên

Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến như đã

cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Đồng thời, yêu cầu bà C trả cho D

Bank nợ gốc 7.282.050 đồng, nợ lãi tạm tính đến hết ngày 20/6/2023 gồm: nợ

lãi trong hạn 717.950 đồng, nợ lãi quá hạn 5.789.988 đồng và tiền lãi phát sinh

theo hợp đồng tín dụng số cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103

ngày 04/5/2018 trên số dư nợ chưa thanh toán kể từ ngày 21/6/2023 cho đến khi

thi hành án xong; rút lại một phần yêu cầu khởi kiện trả phí thường niên với số

tiền 160.000 đồng. Trường hợp đến hạn trả nợ, bà C không thực hiện nghĩa vụ

trả nợ cho D Bank thì ông P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà C.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,

Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người

đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70,

71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Đặng Thị Hồng C, người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà

Nguyễn Thị Kim C1 vắng mặt từ khi thụ lý vụ án cho đến nay. Cho nên, Hội

đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N,

bà C1 là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp ngày

04/5/2018 giữa Ngân hàng với bà C được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa

thuận. Ngân hàng đã giải ngân xong cho bà C với tổng số tiền 20.000.000 đồng

và bà C đã nhận đủ. Do bà C vi phạm nghĩa vụ trả vốn, lãi hàng tháng theo thỏa

thuận nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà C trả vốn và lãi là có cơ sở, phù hợp

với quy định tại các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự.

Ông Nguyễn Hoàng P tự nguyện bảo lãnh cho khoản vay của bà C. Trong

trường hợp bà C không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ đầy đủ thì ông P có nghĩa

vụ trả nợ thay theo các Điều 335, 336 Bộ luật Dân sự.

Do phía Ngân hàng rút yêu cầu đối với số tiền phí thường niên 160.000

đồng nên cần đình chỉ theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 335, 336, 463, 466,

468 Bộ luật Dân sự và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của D Bank; buộc bà C có nghĩa vụ trả cho D Bank nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20/6/2023 là 13.789.988 đồng (bao gồm: nợ gốc 7.282.050 đồng, nợ lãi trong hạn 717.950 đồng, nợ lãi quá hạn 5.789.988 đồng), nợ lãi phát sinh từ ngày 21/6/2023 cho đến ngày bà C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp bà C không thực hiện đúng và đầy đủ thì ông Nguyễn Hoàng P phải trả nợ thay cho bà C. Đình chỉ yêu cầu của D Bank đối với số tiền phí thường niên 160.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: D Bank khởi kiện yêu cầu bà Đặng

Thị Hồng C trả nợ vay. Bà C đang cư trú trên địa bàn huyện C nên yêu cầu kiện của D Bank thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, bà C,

ông P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà C1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà C1 theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản:

Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103

ngày 04/5/2018 giữa D Bank – Phòng Giao dịch C với bà Đặng Thị Hồng C được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.

Về thực hiện hợp đồng, trên cơ sở hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số

007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018, bà C được D Bank giải ngân số tiền 20.000.000 đồng thông qua Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ngày 04/5/2018. Sau khi vay, bà C có trả cho Ngân hàng được số nợ gốc 12.717.950 đồng và nợ lãi 1.282.050 đồng rồi ngưng không thanh toán tiếp. Cho nên, bà C còn nợ D Bank nợ gốc 7.282.050 đồng và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 20/6/2023 là 6.507.938 đồng, trong đó, nợ lãi trong hạn 717.950 đồng và nợ lãi quá hạn 5.789.988 đồng.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu bà C trả nợ gốc, nợ lãi trong

hạn, lãi quá hạn tạm tính đến hết ngày 03/11/2022, phí thường niên duy trì thẻ

là 12.953.000 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ còn lại theo mức lãi suất tại

hợp đồng tín dụng số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018, từ ngày

04/11/2022 đến ngày thanh toán xong nợ. Trường hợp đến hạn trả nợ, bà C

không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Nguyễn Hoàng P phải

thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà C.

Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Ngân hàng tự

nguyện rút lại yêu cầu trả phí thường niên duy trì thẻ. Vì vậy, Hội đồng xét xử

đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về trả phí thường niên duy

trì thẻ với số tiền 160.000 đồng theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng

dân sự.

Xét yêu cầu còn lại của Ngân hàng thấy rằng, do bà C vi phạm nghĩa vụ

trả nợ nên D Bank khởi kiện yêu cầu bà C trả nợ là phù hợp với nội dung hợp

đồng tín dụng đã ký kết, quy định tại các Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm

2015, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Về biện pháp bảo đảm, theo văn bản đề nghị vay vốn kiêm phương án sử

dụng vốn ngày 09/4/2018 do bà C lập, ông P cam kết, trường hợp bà C không

thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, ông P sẽ trả nợ thay cho D Bank cho

đến khi hết nợ.

Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của D Bank; buộc bà C trả cho D

Bank nợ gốc 7.282.050 đồng và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 20/6/2023 là

6.507.938 đồng, trong đó, nợ lãi trong hạn 717.950 đồng, nợ lãi quá hạn

5.789.988 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi

suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số

007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018, kể từ ngày 21/6/2023 cho đến

khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp đến hạn trả nợ, bà C không thực

nghĩa vụ trả nợ cho D Bank thì ông P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà

C theo quy định tại các Điều 335, 342 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho

D Bank là 689.499 đồng.

D Bank không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho D Bank số

tiền tạm ứng án phí 324.000 đồng mà D Bank đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 335, 342, 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; các

Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ

phần Đ về việc yêu cầu bà Đặng Thị Hồng C trả phí thường niên duy trì thẻ với số tiền 160.000 (một trăm sáu mươi nghìn) đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ

phần Đ.

Buộc bà Đặng Thị Hồng C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại

cổ phần Đ nợ gốc và nợ lãi của khoản vay như sau:

- Nợ lãi tính đến hết ngày 20/6/2023: 6.507.938 (sáu triệu, năm trăm lẻ

bảy nghìn, chín trăm ba mươi tám) đồng, trong đó, nợ lãi trong hạn 717.950 (bảy trăm mười bảy nghìn, chín trăm năm mươi) đồng và nợ lãi quá hạn 5.789.988 (năm triệu, bảy trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm tám mươi tám) đồng;

- Nợ gốc: 7.282.050 (bảy triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn, không trăm

năm mươi) đồng và tiền lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Phòng Giao dịch C và bà Đặng Thị Hồng C kể từ ngày 21/6/2023 cho đến khi thanh toán xong.

Trường hợp đến hạn trả nợ, bà Đặng Thị Hồng C không thực hiện nghĩa

vụ trả nợ thì ông Nguyễn Hoàng P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ thay cho bà Đặng Thị Hồng C.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đặng Thị Hồng C phải chịu 689.499 (sáu trăm tám mươi chín nghìn,

bốn trăm chín mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 324.000 (ba trăm hai mươi bốn nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2022/0013021 ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng Thương mại cổ

phần Đ có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Đặng Thị Hồng C, ông Nguyễn Hoàng

P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà Nguyễn Thị Kim C1 được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,

7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ