- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ và bị đơn bà Đặng Thị…"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 103/2023/DS-ST Ngày: 20-6-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Văn Bé;
2. Ông Trương Phước Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên toà: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 440/2022/TLST-DS ngày 08
tháng 12 năm 2022 về “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 141/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2023 và
Quyết định hoãn phiên tòa số 259/2023/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023,
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (sau đay được viết tắt là
D Bank); địa chỉ trụ sở chính: số A, đường P, Phường A, quận P, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành L; chức
vụ: Nhân viên D Bank – Phòng Giao dịch C; địa chỉ: số B, đường N, thị trấn C,
huyện C, tỉnh An Giang; là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy
quyền số 163/QĐ-DAB-HĐQT ngày 08/8/2022 của Chủ tịch Hội đồng quản trị
D Bank và văn bản ủy quyền ngày 26/12/2022 của Giám đốc D Bank – Phòng
Giao dịch C); có mặt.
Bị đơn: Bà Đặng Thị Hồng C, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện
C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C,
tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N; địa chỉ: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An
Giang; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C,
tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng, D Bank – Phòng Giao dịch C và bà Đặng Thị Hồng C có ký kết hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018. Theo đó, Ngân hàng cho bà C vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh nhỏ lẻ, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 04/5/2018 đến hết ngày 04/5/2019 với hình thức tín chấp có bảo lãnh, lãi suất vay trong hạn là 10%/năm, lãi suất quá hạn 15%/năm, với phương thức thanh toán nợ gốc và lãi được bên vay trả góp liên tục 12 kỳ, bao gồm 11 kỳ trả mỗi kỳ 1.840.000 đồng và kỳ cuối trả 1.760.000 đồng.
Căn cứ hợp đồng tín dụng đã ký kết, Ngân hàng giải ngân bằng hình thức
chuyển khoản qua tài khoản của bà C mở tại Ngân hàng vào ngày 04/5/2018 và bà C đã nhận đủ số tiền vay 20.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 03/11/2022, bà C đã trả
cho Ngân hàng số tiền 14.000.000 đồng (gồm: nợ gốc 12.717.950 đồng, nợ lãi 1.282.050 đồng) và ngưng thanh toán từ ngày 15/8/2019 cho đến nay. Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 04/5/2019. Tính đến ngày 03/11/2022, bà C còn nợ lại Ngân hàng nợ gốc 7.282.050 đồng, nợ lãi trong hạn 717.950 đồng, nợ lãi quá hạn 4.793.000 đồng, phí thường niên duy trì thẻ 160.000 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu bà C thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng
khoản nợ theo hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018 với số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn tạm tính đến hết ngày 03/11/2022, phí thường niên duy trì thẻ là 12.953.000 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ còn lại theo mức lãi suất tại Hợp đồng tín dụng số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018, từ ngày 04/11/2022 đến ngày thanh toán xong nợ. Trường hợp đến hạn trả nợ, bà C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Nguyễn Hoàng P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà C.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ngày 19/01/2023, Ngân hàng rút lại một
phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bị đơn trả phí thường niên duy trì thẻ 160.000 đồng.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện là: Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số
007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018 (bản photo); Đề nghị vay vốn
kiêm phương án sử dụng vốn ngày 09/4/2018 (bản photo); Giấy đề nghị chi vay
góp qua tài khoản thẻ ngày 04/5/2018 (bản photo); Danh sách cho vay trả góp
giải ngân qua tài khoản thẻ ngày 04/5/2018 (bản photo) và các giấy tờ khác có
liên quan.
- Bị đơn bà Đặng Thị Hồng C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Hoàng P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà Nguyễn Thị Kim C1 đã được
triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên
Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến như đã
cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Đồng thời, yêu cầu bà C trả cho D
Bank nợ gốc 7.282.050 đồng, nợ lãi tạm tính đến hết ngày 20/6/2023 gồm: nợ
lãi trong hạn 717.950 đồng, nợ lãi quá hạn 5.789.988 đồng và tiền lãi phát sinh
theo hợp đồng tín dụng số cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103
ngày 04/5/2018 trên số dư nợ chưa thanh toán kể từ ngày 21/6/2023 cho đến khi
thi hành án xong; rút lại một phần yêu cầu khởi kiện trả phí thường niên với số
tiền 160.000 đồng. Trường hợp đến hạn trả nợ, bà C không thực hiện nghĩa vụ
trả nợ cho D Bank thì ông P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà C.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70,
71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Đặng Thị Hồng C, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà
Nguyễn Thị Kim C1 vắng mặt từ khi thụ lý vụ án cho đến nay. Cho nên, Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N,
bà C1 là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp ngày
04/5/2018 giữa Ngân hàng với bà C được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa
thuận. Ngân hàng đã giải ngân xong cho bà C với tổng số tiền 20.000.000 đồng
và bà C đã nhận đủ. Do bà C vi phạm nghĩa vụ trả vốn, lãi hàng tháng theo thỏa
thuận nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà C trả vốn và lãi là có cơ sở, phù hợp
với quy định tại các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự.
Ông Nguyễn Hoàng P tự nguyện bảo lãnh cho khoản vay của bà C. Trong
trường hợp bà C không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ đầy đủ thì ông P có nghĩa
vụ trả nợ thay theo các Điều 335, 336 Bộ luật Dân sự.
Do phía Ngân hàng rút yêu cầu đối với số tiền phí thường niên 160.000
đồng nên cần đình chỉ theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 335, 336, 463, 466,
468 Bộ luật Dân sự và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của D Bank; buộc bà C có nghĩa vụ trả cho D Bank nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20/6/2023 là 13.789.988 đồng (bao gồm: nợ gốc 7.282.050 đồng, nợ lãi trong hạn 717.950 đồng, nợ lãi quá hạn 5.789.988 đồng), nợ lãi phát sinh từ ngày 21/6/2023 cho đến ngày bà C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp bà C không thực hiện đúng và đầy đủ thì ông Nguyễn Hoàng P phải trả nợ thay cho bà C. Đình chỉ yêu cầu của D Bank đối với số tiền phí thường niên 160.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: D Bank khởi kiện yêu cầu bà Đặng
Thị Hồng C trả nợ vay. Bà C đang cư trú trên địa bàn huyện C nên yêu cầu kiện của D Bank thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, bà C,
ông P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà C1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà C1 theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản:
Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103
ngày 04/5/2018 giữa D Bank – Phòng Giao dịch C với bà Đặng Thị Hồng C được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.
Về thực hiện hợp đồng, trên cơ sở hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số
007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018, bà C được D Bank giải ngân số tiền 20.000.000 đồng thông qua Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ngày 04/5/2018. Sau khi vay, bà C có trả cho Ngân hàng được số nợ gốc 12.717.950 đồng và nợ lãi 1.282.050 đồng rồi ngưng không thanh toán tiếp. Cho nên, bà C còn nợ D Bank nợ gốc 7.282.050 đồng và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 20/6/2023 là 6.507.938 đồng, trong đó, nợ lãi trong hạn 717.950 đồng và nợ lãi quá hạn 5.789.988 đồng.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu bà C trả nợ gốc, nợ lãi trong
hạn, lãi quá hạn tạm tính đến hết ngày 03/11/2022, phí thường niên duy trì thẻ
là 12.953.000 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ còn lại theo mức lãi suất tại
hợp đồng tín dụng số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018, từ ngày
04/11/2022 đến ngày thanh toán xong nợ. Trường hợp đến hạn trả nợ, bà C
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Nguyễn Hoàng P phải
thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà C.
Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Ngân hàng tự
nguyện rút lại yêu cầu trả phí thường niên duy trì thẻ. Vì vậy, Hội đồng xét xử
đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về trả phí thường niên duy
trì thẻ với số tiền 160.000 đồng theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Xét yêu cầu còn lại của Ngân hàng thấy rằng, do bà C vi phạm nghĩa vụ
trả nợ nên D Bank khởi kiện yêu cầu bà C trả nợ là phù hợp với nội dung hợp
đồng tín dụng đã ký kết, quy định tại các Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm
2015, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Về biện pháp bảo đảm, theo văn bản đề nghị vay vốn kiêm phương án sử
dụng vốn ngày 09/4/2018 do bà C lập, ông P cam kết, trường hợp bà C không
thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, ông P sẽ trả nợ thay cho D Bank cho
đến khi hết nợ.
Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của D Bank; buộc bà C trả cho D
Bank nợ gốc 7.282.050 đồng và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 20/6/2023 là
6.507.938 đồng, trong đó, nợ lãi trong hạn 717.950 đồng, nợ lãi quá hạn
5.789.988 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi
suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số
007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018, kể từ ngày 21/6/2023 cho đến
khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp đến hạn trả nợ, bà C không thực
nghĩa vụ trả nợ cho D Bank thì ông P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà
C theo quy định tại các Điều 335, 342 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho
D Bank là 689.499 đồng.
D Bank không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho D Bank số
tiền tạm ứng án phí 324.000 đồng mà D Bank đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 335, 342, 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; các
Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đ về việc yêu cầu bà Đặng Thị Hồng C trả phí thường niên duy trì thẻ với số tiền 160.000 (một trăm sáu mươi nghìn) đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đ.
Buộc bà Đặng Thị Hồng C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại
cổ phần Đ nợ gốc và nợ lãi của khoản vay như sau:
- Nợ lãi tính đến hết ngày 20/6/2023: 6.507.938 (sáu triệu, năm trăm lẻ
bảy nghìn, chín trăm ba mươi tám) đồng, trong đó, nợ lãi trong hạn 717.950 (bảy trăm mười bảy nghìn, chín trăm năm mươi) đồng và nợ lãi quá hạn 5.789.988 (năm triệu, bảy trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm tám mươi tám) đồng;
- Nợ gốc: 7.282.050 (bảy triệu, hai trăm tám mươi hai nghìn, không trăm
năm mươi) đồng và tiền lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 007649443/0131644001T18103 ngày 04/5/2018 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Phòng Giao dịch C và bà Đặng Thị Hồng C kể từ ngày 21/6/2023 cho đến khi thanh toán xong.
Trường hợp đến hạn trả nợ, bà Đặng Thị Hồng C không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ thì ông Nguyễn Hoàng P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ thay cho bà Đặng Thị Hồng C.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đặng Thị Hồng C phải chịu 689.499 (sáu trăm tám mươi chín nghìn,
bốn trăm chín mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 324.000 (ba trăm hai mươi bốn nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2022/0013021 ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đ có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bà Đặng Thị Hồng C, ông Nguyễn Hoàng
P, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N, bà Nguyễn Thị Kim C1 được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |