- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Hoàng Thị H 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/6/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2022/HS-ST Ngày 26-10-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Xuân Trường
2. Ông Trương Đức Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 103/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Thị H; Tên gọi khác: không ;
Sinh năm 2001; Giới tính: Nữ.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tổ 2, thị trấn Đồng Tâm, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Văn hoá: 8/12; Nghề nghiệp: Tự do;
Con ông: Hoàng Đức L, sinh năm 1974 (đã chết); Con bà: Phạm Thị Th, sinh năm 1982;
Chồng, con: chưa có;
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/6/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Chị Hoàng Thị Th1, sinh năm 1992 –Vắng mặt Địa chỉ: Thôn Na Rau, xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
2. Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1991 – Vắng mặt Địa chỉ: Thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn Ph:
Ông Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1968 – Có mặt. Địa chỉ: Thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
- Người có quyền lợi nghã vụ liên quan:
1. Anh Tạ Quang Hưng, sinh năm 1996 – Vắng mặt Địa chỉ: Thôn Hưng Thịnh, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Dương Văn Trường, sinh năm 1990 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Chớp, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
3. Chị Dương Thị Nga, sinh năm 1983 – Vắng mặt Địa chỉ: Thôn An Cập, xã Hoàng An, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
4. Chị Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1993 – Vắng mặt Địa chỉ: Thôn Đoài, xã Bắc Lý (nay là TDP Đoài, thị trấn Bắc Lý), huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
5. Anh Nguyễn Văn Quý, sinh năm 1985 – Vắng mặt Địa chỉ: Thôn Ngọc Cụ, xã Hoàng Thanh, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
6. Ông Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1968 – Có mặt Địa chỉ: Thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1998 – Vắng mặt
2. Anh Nguyễn Ngọc Quang, sinh năm 1988 – Vắng mặt Cùng địa chỉ: Thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Thị H, sinh năm 2001 ở tổ 2, thị trấn Đồng Tâm, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn làm nhân viên phục vụ quán hát karaoke Sao Mai ở thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang từ năm 2016 đến năm 2021. Trong khoảng thời gian từ tháng 1/2021 đến tháng 2/2021, H đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện Hiệp Hoà, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Trong quá trình làm nhân viên phục vụ ở quán hát karaoke Sao Mai, Nguyễn Thị H, quen biết chị Hoàng Thị Th1, sinh năm 1992 ở thôn Na Rau, xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (chị Th1 là người cùng làm việc với H ở quán Sao Mai). H biết chị Th1 có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 20B2-041.82 nên thỉnh thoảng H mượn xe mô tô của chị Th1 để sử dụng. Khoảng cuối tháng 01/2021, do không có tiền nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị Th1 để lấy tiền chi tiêu. Để thực hiện ý định của mình, H nói dối chị Th1 là bố H bị ốm và đang điều trị tại Bệnh viện trung ương Thái Nguyên và bảo chị Th1 cho mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 20B2-041.8. Do tin tưởng H nên chị Th1 đồng ý giao xe và chứng nhận đăng ký xe mô tô cho H. Sau khi được chị Th1 giao xe, H điều khiển chiếc xe mô tô của chị Th1 đến cầm cố cho chị Dương Thị Nga, sinh năm 1983 ở thôn An Cập, xã Hoàng An, huyện Hiệp Hòa, H đã nhiều lần lấy tiền cầm cố chiếc xe từ chị Nga với tổng số tiền là 20.000.000 đồng, mỗi lần chị Nga đưa tiền mặt hoặc chuyển tiền qua tài khoản cho H. Sau khi có tiền, H sử dụng điện thoại nạp tiền vào tài khoản game Tài Xỉu để chơi và chi tiêu cá nhân hết. Do tiếp tục muốn lấy thêm tiền nhưng không được chị Nga đồng ý, H đã nhờ anh Tạ Quang Hưng, sinh năm 1996 ở tổ dân phố Hưng Thịnh, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang và anh Dương Văn Trường, sinh năm 1990 ở thôn Chớp, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang đến gặp chị Nga và chuộc chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20B2-041.8 với giá 20.000.000 đồng. Sau đó, H thỏa thuận với anh Trường tiếp tục cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20B2-041.8 cho anh Trường với giá 25.000.000đồng trong thời hạn 10 ngày. Do anh Trường đã trả cho chị Nga 20.000.000 đồng nên số tiền H sẽ nhận lại là 5.000.000 đồng nhưng anh Trường trừ luôn tiền lãi và chỉ đưa cho H 4.400.000 đồng. Đồng thời, anh Trường yêu cầu H viết giấy bán xe mô tô biển kiểm soát 20B2-041.8 cho anh Trường để nếu H không đến chuộc thì anh Trường sẽ bán xe cho người khác. Khi đến hẹn, do H không trả được tiền cho anh Trường như thoả thuận nên anh Trường đã bán chiếc xe biển kiểm soát 20B2-041.8 cho anh Nguyễn Văn Quý, sinh năm 1985 ở thôn Ngọc Cụ, xã Hoàng Thanh, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang với số tiền 26.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Với Ph thức, thủ đoạn như trên, buổi tối ngày 03/02/2021, H gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1991 ở thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang để hỏi mượn chiếc xe mô tô Honda SH, biển kiểm soát 98D1-821.69 của anh Ph (H quen biết anh Ph khi anh Ph đến quán Sao Mai hát Karaoke). H cũng nói dối anh Ph là mượn xe để đi thăm bố H bị ốm. Anh Ph tưởng thật nên đã hẹn gặp H ở cổng trường trung học cơ sở Ngọc Sơn thuộc thôn Đức Nghiêm, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang để giao xe cho H. Sau khi nhận được xe mô tô từ anh Ph, H tiếp tục mang đến cầm cố cho chị Dương Thị Nga được tổng số tiền 20.000.000 đồng, có lần chị Nga đưa tiền trực tiếp cho H, có lần chị Nga chuyển tiền từ tài khoản của chị Nga vào tài khoản của H.
Về phía anh Ph, sau khi cho H mượn xe mô tô và không thấy H trả xe, anh Ph đã đòi nhiều lần nhưng H vẫn không trả. Đến ngày 30/3/2022, anh Ph gửi đơn trình báo đến Công an huyện Hiệp Hoà.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 98D1-821.69 và chiếc xe Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82.
Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG ngày 12/5/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa kết luận: Chiếc xe Honda SH biển kiểm soát 98D1-821.69, số khung 9507LY013852, số máy JF95E0024823 tại thời điểm 03/02/2021 trị giá 68.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 17/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa kết luận: Chiếc xe Honda Lead, biển kiểm soát 20B2-041.82, số khung 7914HY065664, số máy JF79E0092165 tại thời điểm tháng 1 và 2 năm 2021 có giá 26.000.000 đồng”.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, chị Dương Thị Nga thừa nhận có nhận ký gửi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82 của H và đã nhiều lần đưa tiền trực tiếp và chuyển khoản cho H, với tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Khi ký gửi, H có đưa giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 20B2-041.82 cho chị Nga. Sau đó, H mang chiếc xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 98D1-821.69 đến để ký gửi thay cho chiếc xe Honda Lead. Một thời gian sau, có một nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ đã đến thanh toán cho chị Nga số tiền 25.000.000 đồng để chuộc chiếc xe Honda SH biển kiểm soát 98D1-821.69. Sau khi nhận tiền, chị Nga đã đưa chiếc xe Honda SH cho người thanh niên này.
Do các lời khai có mẫu thuẫn, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa H và chị Nga, giữa chị Nga và anh Trường nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai.
Đối với hành vi chơi game Tài Xỉu được thua bằng tiền trên mạng Internet của H có dấu hiệu của hành vi đánh bạc trái phép. Tuy nhiên, H khai đã làm mất chiếc điện sử dụng để chơi game, H không nhớ mật khẩu và tài khoản đã sử dụng nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chị Dương Thị Nga có hành vi nhận ký gửi chiếc xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 98D1-821.69 và chiếc xe Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82, nhưng chị Nga không biết đây là xe do H phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với anh Dương Văn Trường là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82 nhưng không biết đây là xe do H phạm tội mà có nên không phạm tội.
Đối với anh Nguyễn Văn Quý là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82 như anh Trường khai, nhưng anh Quý không nhớ có mua xe của anh Trường hay không. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với anh Quý và không thu hồi được chiếc xe này.
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 98D1-821.69 và chiếc xe Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82 là tài sản H chiếm đoạt của anh Ph và chị Th1, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn Ph yêu cầu H bồi thường số tiền 85.000.000 đồng, H đã bồi thường 20.000.000 đồng. Chị Hoàng Thị Th1 yêu cầu H bồi thường số tiền 30.000.000 đồng, H đã bồi thường 5.000.000 đồng. Chị Th1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho H.
Tại bản Cáo trạng số: 102/CT-VKS -HH ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đã truy tố bị cáo Hoàng Thị H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại tại phiên tòa hôm nay Hoàng Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 02/2021, trên địa bàn huyện Hiệp Hòa. Hoàng Thị H, sinh năm 2001 ở tổ 2, thị trấn Đồng Tâm, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã dùng thủ đoạn gian dối, thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82 của chị Hoàng Thị Th1, sinh năm 1991 ở xóm Na Rau, xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và chiếc xe nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 98D1-821.69 của anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1991 ở thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Tổng trị giá tài sản H chiếm đoạt của chị Th1 và anh Ph là 94.000.000 đồng (chín mươi tư triệu đồng).
Nay bị cáo đã nộp tiền bồi thường cho anh Ph là 20.000.000 đồng, bồi thường cho chị Th1 5.000.000 đồng.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn Ph yêu cầu bị cáo H bồi thường tiếp số tiền là 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/6/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Ph số tiền là 48.000.000 đồng, chị Hoàng Thị Th1 số tiền là 21.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại bị cáo Hoàng Thị H 01 chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị H và 01 điện thoại Iphone 6S, nhưng tạm giữ 01 chiếc điện thoại Iphone 6S để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay bị hại chị Hoàng Thị Th1, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ, việc vắng mặt này không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
. Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Lời khai người làm chứng tang vật chứng thu được của vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận; Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 02/2021, trên địa bàn huyện Hiệp Hòa. Hoàng Thị H, sinh năm 2001 ở tổ 2, thị trấn Đồng Tâm, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã dùng thủ đoạn gian dối, thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82 của chị Hoàng Thị Th1, sinh năm 1991 ở xóm Na Rau, xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và chiếc xe nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 98D1-821.69 của anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1991 ở thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Tổng trị giá tài sản H chiếm đoạt của chị Th1 và anh Ph là 94.000.000 đồng (chín mươi tư triệu đồng). Như vậy đã có đủ cơ sơ để kết luận Hoàng Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị đưa ra xét xử lần nào và cũng không bị xử lý vi phạm hành chính.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hai lần phạm tội đều cấu Th tội phạm và chưa bị đưa ra xét xử do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Thị H đã Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Ph 20.000.000đồng, chị Th1 số tiền 5.000.000 đồng, chị Th1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Làm mất trật tự trị an xã hội, thể hiện sự ngang nhiên coi thường pháp luật, gây Hng mang dao động và bất bình trong quần chúng nhân dân nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình tội phạm xẩy ra trên địa bàn huyện Hiệp Hòa có biểu hiện gia tăng. Vì vậy cần phải xử nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và góp phần ngăn đe phòng ngừa chung. Nhưng xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, cho nên cũng cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo cơ bản là phù hợp cần chấp nhận. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đáng kể để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung bị cáo H không công ăn việc làm, không có thu nhập cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn Ph số tiền là 20.000.000 đồng, chị Hoàng Thị Th1 số tiền 5.000.000 đồng. Do vạy cần buộc bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Ph số tiền 48.000.000 đồng, bồi thường cho chị Hoàng Thị Thắng số tiền là 21.000.000 đồng.
Đối với chị Hoàng Thị Nga, anh Dương Văn Trường khi nhận cầm cố xe do bị cáo mang đến, chị Nga, anh Trường không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Văn Quý là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 20B2-041.82 như anh Trường khai, nhưng anh Quý không nhớ có mua xe của anh Trường hay không. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với anh Quý là có căn cứ.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị H và 01 điện thoại Iphone 6S là tài sản của bị cáo không sử dụng vào hành vi phạm tội lên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ điện thoại để đảm bảo thi hành án.
. Về án phí; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự . Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Xử phạt Hoàng Thị H 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/6/2022.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Hoàng Thị H phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Ph là 48.000.000 đồng, bồi thường cho chị Hoàng Thị Th1 số tiền là 21.000.000 đồng.
Kề từ khi án có hiệu lực pháp luật, bị hại anh Ph, chị Th1 có đơn yêu cầu mà bị cáo không thực hiện đầy đủ khoản tiền bồi thường thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại bị cáo Hoàng Thị H 01 chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị H và 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu bạc, màn hình bị rạn vỡ, có ốp lưng bằng nhựa (tất cả vật chứng trên đã đã được niêm phong), nhưng tạm giữ chiếc điện thoại di động để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo có mặt biết quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Trương Đức Lâm - Nguyễn Xuân Trường | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |