vanban.org

Bản án 103/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công G và bị cáo Mạc Văn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HS-ST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân T phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Công G và bị cáo Mạc Văn T.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Công G và bị cáo Mạc Văn T, mỗi người phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công G cùng đồng bọn cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công G và bị cáo Mạc Văn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HS-ST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân T phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Công G và bị cáo Mạc Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2022/HS-PT
Ngày: 27/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hương Nhu.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh và ông Nguyễn Văn Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hương Sen - Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần gồm có:

- Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương.

Ngày 27/9/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 121/2022/TLPT-HS ngày 12/9/2022 đối với bị cáo Nguyễn Công G và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Công G, Mạc Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HS-ST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Các bị cáo kháng cáo:

1. Nguyễn Công G, sinh năm 1985, tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư B, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới T1: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công D và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Vũ Thị Thúy M, sinh năm 1997; có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2019; T án, T sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 03/01/2012 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (G thi hành xong quyết định xử phạt ngày 10/01/2012).

- Ngày 28/01/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là T phố Chí Linh) xử phạt 39 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích tại bản án số 08/2016/HSST. Ngày 02/02/2018, G chấp hành xong hình phạt tù; ngày 09/4/2020 G chấp hành xong phần bồi thường dân sự, án phí hình sự và dân sự.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (vắng mặt).

2. Mạc Văn T, sinh năm: 1992 tại huyện N1, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã N, huyện N1, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới T1: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn L và bà Nguyễn Thị T; T án, T sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 23/8/2021 đến nay (có mặt).

Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị:

Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1990 tại T, Hải Dương; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới T1: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M (Đã chết); T án, T sự: Không; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số 128/2022/QĐ-CA ngày 22/7/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:

Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986 và chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; đều có địa chỉ: Khu dân cư Đ, xã P, T phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của chị T: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu dân cư Đ, xã P, T phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986 (vắng mặt);

- Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1992 (vắng mặt);

- Anh Phạm Văn H2, sinh năm 1984 (vắng mặt);

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 17/8/2020, Nguyễn Công G đi xe máy từ nhà đến khu dân cư Đại Tân, phường Hoàng Tân, T phố C, tỉnh Hải Dương có việc. Khi đi đến khu vực Cầu Ma trên Quốc lộ 18 thuộc khu dân cư Chi Ngãi 1, phường Cộng Hòa, T phố C thì bị một chiếc xe ô tô tải, màu trắng (biển số xe có đuôi 97) từ phía sau vượt lên và tạt đầu xe của G (theo G khai), do đường trơn trượt nên khiến xe máy do G điều khiển ngã ra đường làm G xây sát nhẹ và bẩn quần áo, xe máy không bị hư hỏng. G bực tức vì bị tạt làm xe máy đổ và G ngã nên G dựng xe máy lên rồi chạy đuổi theo vào khu Công nghiệp Cộng Hòa thuộc KDC Chi Ngãi 1, phường Cộng Hòa, T phố C nhưng không kịp. G nảy sinh ý định đập phá chiếc xe trên để trả thù nên gọi điện thoại cho Mạc Văn T và Nguyễn Văn T1 bảo “vừa anh bị chiếc xe ô tô nó tạt đầu, anh bị ngã còn chiếc xe nó bỏ chạy rồi, cầm theo đồ và gọi mấy anh em lên khu công nghiệp tìm nó”, Tư và T đồng ý. Khi đó, Nguyễn Văn T1 đang chơi tại phòng trọ của H2 (người Sơn La) ở phường Sao Đỏ, T phố C còn Mạc Văn T ở phòng trọ của Khoa (người ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La) ở phường V, T phố C nên T, Tư có kể cho Khoa, H2 biết sự việc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi G đứng tại khu vực gần Lò Gạch thuộc khu dân cư Vĩnh Long, phường V, T phố C, Hải Dương thì H2 điều khiển chiếc xe Wave màu trắng của H2, không lắp biển số chở Tư ngồi sau cầm theo 02 cây gậy làm bằng gỗ, hình trụ tròn, dài khoảng hơn 1m, đường kính khoảng 3cm, phần đầu gậy có gắn với 1 răng bừa làm bằng kim loại dài khoảng 20-30cm từ phòng trọ của H2 đi đến. Khoảng 05 phút sau, Khoa điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Dream, không lắp biển số chở T ngồi sau cầm theo 01 thanh kiếm dạng kiếm Nhật, dài khoảng 80cm, phần lưỡi kiếm làm bằng kim loại dài khoảng 60cm, chuôi kiếm làm bằng gỗ được quấn vải màu đen, vỏ kiếm làm bằng nhựa màu trắng được lấy từ phòng trọ của Khoa đi đến. Tại đây G kể sự việc trên cho T, Tư, H2, Khoa nghe và bảo “tý anh em lượn lờ quanh KCN Cộng Hòa tìm xem có thấy xe ô tô tải màu trắng, biển số xe có đuôi 97 ra thì chặn chọc lốp và đập phá xe chiếc xe này cho anh vì chúng nó láo”, T, Tư, H2, Khoa đồng ý, còn G đi về nhà thay quần áo. Sau đó Khoa chở T, H2 chở Tư lên khu Công nghiệp Cộng Hòa để lượn quanh tìm và chờ xe ô tô đi ra. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, T, Tư, H2, Khoa nhìn thấy chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Foton, màu trắng, biển kiểm soát 29C-638.97 do anh Hoàng Văn Tìm điều khiển chở chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn Thìa đi trước, phía sau là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Foton, màu xanh, biển kiểm soát 99C-064.91 do anh Phạm Văn H2 điều khiển chở anh Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Văn Đinh đi lấy hàng từ Công ty TNHH Easteck Việt Nam trong khu công nghiệp Cộng Hoà đi ra (cả hai xe ô tô trên đều do anh Nguyễn Văn Đ làm chủ). Thấy chiếc ô tô biển kiểm soát 29C-638.97, giống với đặc điểm xe G miêu tả và thấy có người nói “à nó đây rồi” thì H2 điều khiển xe máy chở Tư phía sau mỗi người cầm một gậy gỗ đỗ xe máy chặn đầu xe ô tô 29C-638.97. Sau đó Tư nhảy xuống đứng trước đầu xe ô tô 29C-638.97 dùng gậy đập mạnh vào phần kính chắn gió phía trước bên phụ làm kính bị nứt vỡ, sau đó Tư đi sang bên trái xe dùng phần đầu gậy có gắn răng bừa nhọn bằng kim loại chọc vào lốp bánh xe phía trước và phía sau bên phụ của xe ô tô, còn H2 dùng gậy gỗ đập vỡ gương chiếu hậu bên lái và chọc bục lốp bánh xe phía trước bên lái của xe ô tô 29C-638.97. Khi đi đến cuối xe ô tô 29C-638.97 nhìn thấy xe ô tô 99C-064.91, nghĩ rằng chiếc xe ô tô này cùng một chủ với chiếc xe 29C-638.97 và có thể sử dụng chiếc xe để ngăn cản, đuổi theo mình nên Tư tiếp tục đập vỡ gương chiếu hậu bên phụ và chọc vào lốp bánh xe phía trước và phía sau bên phụ của xe ô tô 99C-064.91; H2 dùng gậy đập vỡ gương chiếu hậu, kính cánh cửa và chọc bục lốp bánh xe phía trước, phía sau bên lái của xe 99C-064.91 làm gương, kính cánh cửa, lốp bánh xe bị hư hỏng. Lúc này Khoa chở T bằng xe máy đi đến, T nhẩy xuống xe, tay cầm kiếm mang theo đứng trước đầu xe ô tô 99C-064.91 đập vào phần kính chắn gió phía trước bên phụ làm nứt vỡ còn Khoa đứng cảnh giới để các đối tượng đập phá tài sản. Sau khi đập xong T lên xe Khoa, Tư lên xe H2 bỏ chạy theo lối cũ phía sau khu công nghiệp Cộng Hòa để về. Khi đến khu vực lò gạch thuộc khu dân cư Vĩnh Long thì gặp G đang đứng tại đây, T nói với G “bọn em vừa chọc lốp, đập kính xe rồi”. Sau đó các đối tượng đi về nhà.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 50 ngày 28/9/2020, Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân T phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, kết luận:

Chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu: FOTON, số loại Thaco, biển kiểm soát 99C-06491, năm, nước sản xuất: 2015, Việt Nam, bị hư hỏng một số bộ phận sau:

+ Kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Có giá trị là 1.300.000 đồng.

+ 02 Mặt gương chiếu hậu bên lái và bên phụ bị nứt vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Có giá trị là 640.000 đồng/1 gương. Tổng giá trị là 1.280.000 đồng.

+ Kính cửa bên lái bị hư hỏng hoàn toàn. Có giá trị là 400.000 đồng

+ 01 lốp xe nhãn hiệu Maxxis 825-16 bao gồm cả săm và yếm, bị 1 vết thủng kích thước (2x0,2)cm, không còn khả năng sử dụng. Có giá trị là 3.500.000 đồng.

+ 01 lốp xe nhãn hiệu Maxxis 825-16 bao gồm cả săm và yếm, bị 1 vết thủng kích thước (1x1) cm. Chi phí khắc phục vết thủng là 150.000 đồng.

+ 01 lốp xe nhãn hiệu Fortune 825R16 bao gồm cả săm và yếm, bị 3 thủng, 1 vết có kích thước (1,5x1)cm; 2 vết thủng đều có kích thước (1x1)cm, không còn khả năng sử dụng. Có giá trị là 3.500.000 đồng.

+ 01 lốp xe nhãn hiệu Fortune 825R16 bao gồm cả săm và yếm, bị 1 vết thủng, có kích thước (1 x1)cm. Chi phí khắc phục vết thủng là 150.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản chiếc xe ô tô biển số 99 C - 064.91 bị hư hỏng tại thời điểm ngày 17/8/2020 là: 10.280.000 đồng.

Chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu: FOTON, số loại Thaco, biển kiểm soát 29C-638.97, năm, nước sản xuất: 2015, Việt Nam, bị hư hỏng một số bộ phận sau:

+ Kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Có giá trị là 1.300.000 đồng.

+ Mặt gương chiếu hậu bên lái, bị hư hỏng hoàn toàn. Có giá trị là 640.000 đồng.

+ 01 lốp xe nhãn hiệu Maxxis 825-16 bao gồm cả săm và yếm, bị 1 vết thủng kích thước (3x0,2)cm, không còn khả năng sử dụng. Có giá trị là 3.500.000 đồng.

+ 02 lốp xe nhãn hiệu Maxxis 825-16 bao gồm cả săm và yếm, có 2 vết thủng/1 lốp, đều có kích thước (1x1)cm, không còn khả năng sử dụng. Có giá trị là 3.500.000 đồng/1lốp xe. Tổng giá trị là 7.000.000 đồng.

+ Công thay kính chắn gió phía trước là 1.200.000 đồng.

+ Công thay kính cánh cửa bên lái là 500.000 đồng.

+ Công thay gương chiếu hậu là 1.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản chiếc xe ô tô biển số 29C-638.97 bị hư hỏng tại thời điểm ngày 17/8/2020 là: 15.640.000 đồng.

Tổng giá trị của phần hư hỏng và công thay thế, sửa chữa của 02 chiếc xe ô tô nêu trên tại thời điểm ngày 17/8/2020 là 25.920.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HS-ST ngày 18/8/2022, Tòa án nhân dân T phố Chí Linh đã căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Nguyễn Công G, Nguyễn Văn T1 và Mạc Văn T; căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tư.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công G, Nguyễn Văn T1, Mạc Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công G 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù T1 từ ngày bắt thi hành án. Quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú để đảm bảo thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù T1 từ ngày bắt thi hành án. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 20/2022/HS-ST ngày 15/6/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt Tư 06 năm 06 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản và 01 năm 03 tháng tù về tội Huỷ hoại tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả 02 bản án là 09 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù T1 từ ngày tạm giữ 12/8/2021.

Xử phạt bị cáo Mạc Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù T1 từ ngày tạm giam 23/8/2021. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 24/8/2022 bị cáo G kháng cáo xin hưởng án treo; ngày 29/8/2022 bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo G vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân T phố Chí Linh.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong thời gian luật định nên hợp lệ. Bị cáo Nguyễn Công G kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng vắng mặt tại phiên tòa vì lý do bị ốm nhưng HĐXX thấy sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; bị cáo Nguyễn Văn T1 không kháng cáo và vắng mặt tại phiên tòa vì đang chấp hành án tại trại giam; người bị hại là anh Nguyễn Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.

Về nội dung: Lời khai của bị cáo T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo khác tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 17/8/2020, tại đường khu công nghiệp Cộng Hoà thuộc khu dân cư Chi Ngãi 1, phường Cộng Hoà, T phố C, tỉnh Hải Dương, do nghĩ xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-638.97 của anh Nguyễn Văn Đ tạt đầu xe máy do mình điều khiển khiến Nguyễn Công G ngã nên G đã bảo Nguyễn Văn T1 và Mạc Văn T cùng 02 đối tượng tên H2 và Khoa (chưa rõ nhân thân, lý lịch) sử dụng 02 gậy gỗ gắn đầu kim loại nhọn và 01 kiếm kim loại tìm để đập phá làm hư hỏng chiếc xe biển số 29C-638.97. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày Tư, T, H2, Khoa đã đập phá làm hư hỏng 02 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-638.97 và 99C-064.91 của anh Nguyễn Văn Đ. Thiệt hại của xe 29C-638.97 trị giá 15.640.000đồng, thiệt hại của xe 99C-064.91 trị giá 10.280.000đồng, tổng giá trị thiệt hại của 2 xe ô tô là: 25.920.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo G và bị cáo T, HĐXX nhận thấy: Bản án sơ thẩm xác định bị cáo G là người khởi xướng việc đập phá xe ô tô của anh Đ, chị T nên giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo T là người thực hành tích cực là phù hợp. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều T khẩn khai báo; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo G còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ "đầu thú" quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo G có nhân thân xấu (đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, bị xét xử 39 tháng tù về tội cố ý gây thương tích), bị cáo T ngoài việc cố ý làm hư hỏng xe ô tô biển số 29C-638.97 theo sự chỉ đạo của bị cáo G, còn tự ý cùng bị cáo Tư đập phá xe ô tô biển số 99C-064.91, gây tổng giá trị thiệt hại là 25.920.000đồng thể hiện các bị cáo rất coi thường pháp luật. Do đó, cấp sơ thẩm đã cân nhắc vị trí, vai trò, tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo G 21 tháng tù và bị cáo T 20 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ nào khác nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo G xin được hưởng án treo và bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của TAND T phố Chí Linh.

Kháng cáo của bị cáo G và bị cáo T không được chấp nhận nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xem xét, do đó có hiệu lực pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công G và bị cáo Mạc Văn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HS-ST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân T phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Công G và bị cáo Mạc Văn T.

Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công G 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù T1 từ ngày bắt thi hành án về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản"; xử phạt bị cáo Mạc Văn T 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù T1 từ ngày tạm giam 23/8/2021 về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Công G và bị cáo Mạc Văn T, mỗi người phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án, ngày 27/9/2022.

Cỡ chữ