- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2022/HNGĐ-ST Ngày: 25-5-2022 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mầm
2. Ông Nguyễn Văn Sol
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 74/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2022 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Việt A sinh năm 1986 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Lê Kim Q, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 08/02/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Trần Việt A trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2013 anh và chị Lê Kim Q tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau vào ngày 16/01/2013. Trong thời gian chung sống anh và chị Q không hợp nhau, sự yêu thương quan tâm đến nhau không có, vào năm 2018 anh đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án để xin ly hôn với chị Q nhưng được gia đình hai bên vận động hàn gắn nên anh đã rút đơn khởi kiện. Nay xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh và chị Q không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lê Kim Q.
Về con chung: Trong thời gian chung sống anh và chị Lê Kim Q có 01 (Một) người con chung tên Trần Quốc Ng, sinh ngày 01/11/2013; hiện con đang sống với anh và chị Q. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc con tên Trần Quốc Ng; anh không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống anh và chị Lê Kim Q có tài sản chung nhưng anh và chị Q tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ thu, nợ trả: Trong thời gian chung sống anh và chị Lê Kim Q không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng anh chị, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là chị Lê Kim Q được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà chị Q không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu ly hôn của anh Trần Việt A. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ hai lần thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chỉ có nguyên đơn là anh Trần Việt A có mặt theo triệu tập của Tòa án, bị đơn là chị Lê Kim Q vắng mặt không lý do nên không tiến hành hòa giải được, cũng như nghe ý kiến của chị Q về yêu cầu ly hôn của anh Việt A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa anh Trần Việt A với chị Lê Kim Q là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn là chị Lê Kim Q vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Kim Q theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Việt A và chị Lê Kim Q tự nguyện tiến đến hôn nhân, căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 16/01/2013 nên đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Việt A và chị Q là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Theo anh Trần Việt A trình bày thì trong thời gian chung sống anh và chị Q không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi, sự yêu thương quan tâm đến nhau không có, vào năm 2018 anh đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án để xin ly hôn với chị Q nhưng được gia đình hai bên vận động hàn gắn nên anh đã rút đơn khởi kiện; nay nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị Q không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc, không thể tiếp tục được nữa nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Q. Đối với chị Lê Kim Q, trong quá trình tố tụng chị Q không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh Việt A, như vậy chị Q đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân đối với anh Việt A. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Trần Việt A và chị Lê Kim Q đã không còn, anh Việt A cương quyết ly hôn, chị Q không có thiện chí hàn gắn, cả hai đã từng mâu thuẫn dẫn đến yêu cầu ly hôn và được hàn gắn nhưng vẫn không thể hòa hợp để tiếp tục chung sống với nhau, điều này cho thấy hôn nhân giữa anh Việt A và chị Q đã không còn hạnh phúc và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh Việt A là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Theo trình bày của anh Trần Việt A thì trong thời gian chung sống anh và chị Lê Kim Q có 01 (Một) người con chung tên Trần Quốc Ng, sinh ngày 01/11/2013; hiện con đang sống với anh và chị Q; sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc con tên Trần Quốc Ng. Xét thấy, anh Trần Việt A yêu cầu được nuôi con tên Trần Quốc Ng, chị Lê Kim Q không có ý kiến phản đối; mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con, tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Trần Quốc Ng ngày 24/3/2022 cháu Ng có nguyện vọng được sống chung với cha; do đó Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Ng cho anh Việt A nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi là phù hợp và có cơ sở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Việt A không yêu cầu chị Lê Kim Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Theo trình bày của anh Trần Việt A thì trong thời gian chung sống anh và chị Lê Kim Q có tài sản chung nhưng anh và chị Q tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
Về nợ thu, nợ trả: Theo trình bày của anh Trần Việt A thì trong thời gian chung sống anh và chị Lê Kim Q không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Việt A. Anh Trần Việt A được ly hôn với chị Lê Kim Q.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Quốc Ng, sinh ngày 01/11/2013 cho anh Trần Việt A nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi.
Chị Lê Kim Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Trần Việt A.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về tài sản chung: Đương sự khai có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về nợ thu, nợ trả: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
6. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Trần Việt A phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí anh Việt A đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007760 ngày 09 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Anh Trần Việt A có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Lê Kim Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; - Chi cục THADS huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; - UBND xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Ngọc Huyền |