vanban.org

Bản án 103/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Zơ Râm T: Xác định anh Nông Văn L, sinh năm 1991; trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y …

Về án phí: Các đương sự không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Zơ Râm T - Nông Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Zơ Râm T: Xác định anh Nông Văn L, sinh năm 1991; trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y …
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-11-2022
Về việc: “Tranh chấp về xác định
cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lãnh Văn Việt.

Bà Vũ Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 493/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Zơ Râm T, sinh năm 1987; trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nông Văn L, sinh năm 1991; trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh BNướch G, sinh năm 1984; trú tại thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27-9-2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Zơ Râm T trình bày:

Năm 2007, chị đăng ký kết hôn với anh BNướch G, có hai con chung là BNướch Hoàng U và BNướch Hoàng C. Trong quá trình chung sống, chị và anh G nảy sinh mâu thuẫn, không thể hòa giải được, đã ly thân từ năm 2013 và đã giải quyết ly hôn vào ngày 11-8-2022 tại Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Theo đó, Tòa án đã công nhận thuận tình ly hôn giữa chị và anh G, về con chung: giao hai con chung là BNướch Hoàng U và BNướch Hoàng C cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng.

Trong thời gian ly thân với anh BNướch G thì chị đã quen biết và có quan hệ tình cảm với anh Nông Văn L. Đến ngày 02-10-2017, chị sinh 02 con (sinh đôi) tại Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, dự định đặt tên là Nông Văn L và Nông Văn Th nhưng chưa làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con. Mặc dù cháu L và cháu Th được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa anh BNướch G và chị nhưng thực tế chị đã ly thân với anh G từ năm 2013, chị và anh G không liên lạc, hỏi thăm gì nhau, không chung sống cùng nhau nên hai cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L và Nông Văn Th không phải con chung của chị và anh BNướch G. Do đó chị chưa đi đăng ký khai sinh cho cháu.

Ngày 06-9-2022, chị và anh L đăng ký kết hôn tại UBND xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị và hai cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L và Nông Văn Th đã về sống cùng anh Nến tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị cùng anh L và hai cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L và Nông Văn Th đã làm thủ tục xét nghiệm ADN, kết quả xét nghiệm xác định anh L và hai cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L và Nông Văn Th có mối quan hệ cha – con.

Nay chị đề nghị Tòa án xác định anh Nông Văn L là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) và cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn Th, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 24, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

Bị đơn là anh Nông Văn L trình bày tại Bản tự khai:

Anh xác nhận lời trình bày của chị Zơ Râm T về thời điểm quen biết giữa anh và chị T vào năm 2015. Trong quá trình quen biết với chị T thì đến ngày 02-10-2017, chị Zơ Râm T sinh hai con tại Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, dự định đặt tên là Nông Văn L và Nông Văn Th nhưng chưa làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con.

Đến ngày 06-9-2022, anh và chị Zơ Râm T đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị T và hai cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, Nông Văn Th về nhà anh sinh sống cho đến nay. Sau đó, anh nghi ngờ hai cháu bé là con đẻ của anh và chị Zơ Râm T. Anh cùng hai cháu đã làm thủ tục xét nghiệm ADN, kết quả xét nghiệm xác định anh và hai cháu bé có mối quan hệ cha – con

Nay chị T đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) và cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn Th, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 24, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) thì anh hoàn toàn nhất trí và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh BNướch G trình bày tại biên bản lấy lời khai:

Anh và chị Zơ Râm T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Trong thời kỳ hôn nhân giữa anh và chị T có hai con chung là BNướch Hoàng Úc (sinh năm 2007) và BNướch Hoàng Châu (sinh năm 2010), hiện nay anh đang trực tiếp nuôi dưỡng, ngoài ra anh không còn con chung nào khác với chị T. Việc chị Zơ Râm T có con với anh Nông Văn L thì anh không biết và anh không phải cha của hai cháu dự định đặt tên là Nông Văn L và Nông Văn Th. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của chị Zơ Râm T.

Tại Văn bản số 91/2022/CV-GEN ngày 24 tháng 10 năm 2022: Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền đã xác định: Vào ngày 10-10-2022, đại diện công ty đã thu mẫu để tiến hành xét nghiệm của anh Nông Văn L, người con thứ nhất cháu Nông Văn Th, người con thứ hai Nông Văn L. Quy trình thu mẫu được tiến hành như sau: nhân viên thu mẫu trực tiếp thu mẫu máu, chụp ảnh, lăn dấu vân tay, chụp các giấy tờ cá nhân theo đúng thông tin đã khai trên phiếu yêu cầu phân tích ADN theo thủ tục hành chính pháp lý. Kết quả phân tích được ADN đã được Công ty trả lời trong Phiếu kết quả mã số HID2227979 (số KQ: 2205725 và số KQ: 2205726) ngày 13-10-2022.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn chị Zơ Râm T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xác định anh Nông Văn L là cha đẻ của hai cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) và cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn Th, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 24, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

- Bị đơn anh Nông Văn L giữ nguyên ý kiến đã trình bày, nhất trí với yêu cầu của chị Zơ Râm T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh BNướch G vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của anh G có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Zơ Râm T: Xác định anh Nông Văn L, sinh năm 1991; trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) và cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn Th, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 24, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

- Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Zơ Râm T yêu cầu Tòa án xác định anh Nông Văn L là cha đẻ của Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) và cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn Th, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 24, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang); anh Nông Văn L có hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về xác định cha cho con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh BNướch G vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh G.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Các đương sự trong vụ án đều có lời khai xác định: Chị Zơ Râm T và anh BNướch G kết hôn vào năm 2007. Quá trình chung sống, chị T và anh G nảy sinh mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2013 đến ngày 11-8-2022 thì ly hôn. Trong thời gian ly thân và chưa làm thủ tục ly hôn với anh G, chị T đã chung sống như vợ chồng với anh Nông Văn L. Chị T sinh hai cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) và cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn Th, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 24, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang). Đến nay chị Zơ Râm T chưa làm thủ tục đăng ký khai sinh cho hai cháu. Tình tiết, sự kiện này được các đương sự thống nhất nên không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại kết quả xét nghiệm ADN số KQ 2205726 ngày 13-10-2022 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền GENTIS đã kết luận: “Anh Nông Văn L (cha giả định) và cháu Nông Văn L (con giả định) có quan hệ huyết thống Cha – Con.” Tại kết quả xét nghiệm ADN số KQ 2205725 ngày 13-10-2022 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền GENTIS đã kết luận: “Anh Nông Văn L (cha giả định) và cháu Nông Văn Th (con giả định) có quan hệ huyết thống Cha – Con.”

Từ những đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Zơ Râm T, cần xác định anh Nông Văn L là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L và cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn Th do chị Zơ Râm T sinh ngày 02-10-2017 (theo các Giấy chứng sinh số 23, 24, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Vụ án này được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Do vậy các đương sự trong vụ án không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Zơ Râm T: Xác định anh Nông Văn L, sinh năm 1991; trú tại thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn L, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 23, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) và cháu bé dự định đặt tên là Nông Văn Th, sinh ngày 02-10-2017 (theo Giấy chứng sinh số 24, quyển số 21, ngày 02-10-2017 của Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

2. Về án phí: Các đương sự không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ