- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm 04 bị cáo "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Huỳnh Ngọc Tvà Lê Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2021/HS-PT Ngày 22 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng
Các Thẩm phán:
1. Ông Nguyễn Thành Hiếu.
2. Ông Trương Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Na - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong các ngày 18 và 22 tháng 11 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 91/2021/TLPT-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Huỳnh Ngọc Tú, Lê Thanh H do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2021/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Các bị cáo bị kháng cáo:
1. Nguyễn Thanh H (tên gọi khác Nhí), sinh năm 1974 tại Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: ấp T 2B, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1950 (đã chết) và bà Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1953; vợ: Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1983, con: 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 22/01/2020 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Thanh C, sinh năm 1976 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: ấp T 2B, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ sơn nước; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1950 (đã chết) và bà Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1953; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 22/01/2020 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3. Huỳnh Ngọc T(tên gọi khác Trụi), sinh năm 1987 tại Phú Yên; hộ khẩu thường trú: thôn X, xã A, huyện T, tỉnh P; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn N, sinh năm: 1964 và bà Phạm Thị L, sinh năm: 1965; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 22/01/2020 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
4. Lê Thanh H (tên gọi khác Bối), sinh năm 1995 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; hộ khẩu thường trú: ấp B, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn H, sinh năm: 1967 (đã chết) và bà Phạm Thị N, sinh năm: 1967 (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 08/02/2020 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại có kháng cáo: ông Vũ Huỳnh P, sinh năm: 1980. Địa chỉ: ấp V, xã P,
huyện X, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: bà Tạ Thụy H, sinh năm: 1959. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 45 ngày 19/11/2019, anh Vũ Huỳnh P và chị Trần Thị Lệ Quyên đang uống cà phê tại quán Khánh Ly thuộc Khu phố Phố Xóm Rẫy, thị trấn Phước Bửu, huyện X. Trong lúc ngồi uống nước tại quán có bà Tạ Thụy H do ghen tuông nên đến đứng ở vỉa hè đường Huỳnh Minh Thạnh quay vào hướng chòi anh P chị Quyên ngồi, chửi chị Quyên “mày cướp chồng tao", thấy vậy anh P ra can ngăn nhưng bà H vẫn tiếp tục chửi chị Quyên. Một lúc sau, khoảng 15h00, Nguyễn Mạnh Huyền (tên tH gọi Sáu xị), sinh năm 1980, ở ấp Thạnh Sơn 2B, xã Phước Tân, huyện X, tỉnh BR-VT đi cùng Huỳnh Ngọc Tchạy xe máy đến quán cà phê Khánh Ly thuộc KP.Xóm Rẫy, thị trấn Phước Bửu, huyện X thấy anh P cãi nhau với bà H nên Huyền vào can ngăn. P nói “không phải việc của mày” nên giữa P và Huyền xảy ra mâu thuẫn, cự cãi. P ra xe ô tô chở chị Quyên về nhà nghỉ Phúc An thuộc tổ 7, ấp Việt Kiều, xã Phước Tân. Do bực tức nên Huyền kêu Huỳnh Ngọc Tlấy xe máy chở Huyền đuổi theo anh P, trên đường đuổi theo Huyền gọi điện cho Lê Thanh H nói kêu thêm người ra hỗ trợ Huyền và hẹn gặp ở gần quán cà phê Nhớ thuộc ấp Việt Kiều, xã Phước Tân, huyện X, Hưng điện thoại gọi rủ Nguyễn Thanh C nói Huyền gặp chuyện và cùng Hưng điều khiển xe máy biển số 71K8-2228 đến nhà Cường, trên đường thì gặp Thanh Hùng cùng Minh và Tuấn chưa rõ lai lịch (bạn của Huyền), Hưng nói mọi người biết Huyền gặp chuyện tức đang đánh nhau với ai đó cần hỗ trợ. Lúc này, Nguyễn Thanh H lấy 01 bình xịt hơi cay ở nhà mang theo và chở Minh. Sau đó, Hưng nói cả nhóm đi theo khi đến nhà bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp thuộc tổ 9, ấp Bà Rịa, xã Phước Tân, huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Hưng chạy vào phòng ngủ lấy dưới gầm gường 06 cây rựa bỏ vào bao tải màu trắng mang ra đưa cho Minh giữ, Hưng kêu Hùng và Minh chạy xuống quán cà phê Nhớ đứng đợi còn Hưng chở Cường quay về nhà Cường lấy thêm 02 bình xịt hơi cay đưa cho Cường 01 bình Hưng giữ 01 bình. Khi đến quán cà phê Nhớ cả nhóm 07 người gồm: Nguyễn Mạnh Huyền, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Lê Thanh H, Huỳnh Ngọc Tvà 02 đối tượng tên Tuấn, Minh bạn của Huyền (chưa rõ lai lịch) cùng tập trung tại quán cà phê Nhớ. Tại đây, Tú chạy xe chở Huyền chạy trước, cả nhóm chạy theo sau đi đến nhà nghỉ Phúc An, thuộc tổ 7, ấp Việt Kiều, xã Phước Tân, huyện X, tỉnh BR-VT để gặp P. Khi đến nhà nghỉ, thấy P trên tay cầm 01 cây dao tự chế giơ lên thì Huyền và P tiếp tục cãi nhau. Nhóm của Huyền ra đường lấy xe chuẩn bị ra về thì P nói thách thức “tụi mày ngon thì vào đây” lúc này nhóm có Huỳnh Ngọc Tcầm 01 cây rựa (cán tre lưỡi rựa bằng kim loại); Nguyễn Thanh C cầm 01 cây rựa và 01 bình hơi cay; Nguyễn Thanh H cầm 01 cây rựa và 01 bình hơi cay, Lê Thanh H cầm 01 bình hơi cay và 01 cục đá; Tuấn cầm theo 01 cây rựa; Nguyễn Mạnh Huyền cầm theo 01 bình hơi cay cả nhóm xông vào chém P; Trong trong lúc cả nhóm xông đến chém P, Huyền chạy đến giật 01 cây rựa trên tay Hùng xông vào giơ lên đỡ và chém vào đầu của P một nhát, Trụi xông vào dùng rựa chém vào tay P, Huyền quật P xuống nền nhà để nhóm của Huyền chém P nhưng P vùng dậy chạy được vào phòng trốn. Sau đó cả nhóm của Huyền rời khỏi hiện trường, Hưng đem rựa về cất dấu trong phòng ngủ nhà bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp, vứt 01 bình xịt hơi cay đã hết ở dọc đường bỏ trốn, Nguyễn Thanh H vứt 01 bình xịt hơi cay trên đường bỏ trốn, Nguyễn Thanh C mang bình xịt hơi cay về nhà. P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Bà Rịa đến ngày 29/11/2019 xuất viện và yêu cầu xử lý hình sự. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Huỳnh Ngọc Tú, Lê Thanh H khai nhận hành vi gây thương tích cho anh P.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 369/TCT ngày 24/12/2020 và kết luận giám định pháp y bổ sung số 21/TCT ngày 21/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận Vũ Huỳnh P: bị chém 01 nhát vào đầu máu tụ ngoài màng cứng, nứt sọ hở đính (P), 01 nhát vào ngón I bàn tay phải gây đứt gân gấp ngón I tay phải. Thương tích phù hợp với vết chém băm bổ, vật gây thương tích là dao rựa, dao phay, búa, rìu...Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra ở phần đầu và phần tay đối với ông Vũ Huỳnh P hiện tại là 38%.
Vật chứng: 06 cây rựa dài khoảng 1,07m, cán tre dài 0,7m, lưỡi dựa bằng kim
loại khoảng 0,37m; 01 cây dao tự chế cán bằng kim loại dài khoảng 1,9m; lưỡi dao dài 40cm, bản lưỡi rộng 8cm; 01 kiếm võ gỗ sơn màu đen, lưỡi kiếm dài 35cm, màu bạc làm bằng kim loại , cán dài 15cm; 01 mũ bảo hiểm màu xanh có ký hiệu “A” phía hai bên thân mũ, tình trạng nứt vỡ; 02 bình xịt hơi cay đã qua sử dụng; 01 USB SANDISK loại 08GB là vật chứng thu giữ trong vụ án hiện đang tạm giữ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện X chờ xử lý.
Đối với xe máy hiệu Jupiter màu đỏ, biển số 71K8-2228 chưa làm rõ được chủ sở hữu, cơ quan điều tra tách ra xem xét sau.
Đối với các vật chứng khác các bị can vứt bỏ, xe máy đã bán cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra Đặng Thị Ngọc Hà, sinh năm: 1988 vợ bị can Nguyễn Mạnh H đã đứng ra thay chồng và các bị can bồi tH cho bị hại Vũ Huỳnh P số tiền là 60.000.000đ; bị hại không yêu cầu bồi tH gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 06/5/2021, Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Huỳnh Ngọc Tvà Lê Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H (tức Nhí) 06 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2020;
Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh C 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2020; xử phạt bị cáo Lê Thanh H (tức Bối) 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/02/2020; xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T(tức Trụi) 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2020.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 12/5/2021, bị hại anh Vũ Huỳnh P có đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện X vì những lý do sau: cần xem xét vai trò của bà Tạ Thụy H trong vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai báo quanh co nhưng cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo cho các bị cáo; cáo trạng của viện kiểm sát đã không trình bày đúng lời khai của bị hại và nhân chứng; cấp sơ thẩm đã không triệu tập đầy đủ nhân chứng và không công bố lời khai của họ tại phiên tòa; Tòa cấp sơ thẩm không ghi nhận lời khai và ý kiến của bị hại tại phiên tòa.
Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: bị hại có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị hại là hợp lệ;
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Huỳnh Ngọc Tú, Lê Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ; từ đó tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 06 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Thanh C 06 năm tù; bị cáo Lê Thanh H 07 năm tù; bị cáo Huỳnh Ngọc T 07 năm 06 tháng tù là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại không cung cấp thêm tình tiết nào mới để có cở sở hủy bản án sơ thẩm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị hại, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng, các bị cáo hết sức ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: kháng cáo của bị hại làm trong thời hạn luật định, phù hợp với qui định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị hại là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
2.1 Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trước đó, vào khoảng 14 giờ 45 phút ngày 19-11-2019, xuất phát từ việc bà Tạ Thụy H cho rằng chị Trần Thị Lệ Quyên có quan hệ bất chính với chồng mình, nên đã đến quán cà phê Khánh Ly thuộc khu phố Xóm Rẫy, thị trấn X, huyện X nơi chị Quyên và anh Vũ Huỳnh P đang uống cà phê để chửi bới. Sau đó anh Vũ Huỳnh P ra can ngăn nhưng bà H vẫn tiếp tục chửi. Khi đó, Nguyễn Mạnh Huyền và Huỳnh Ngọc Tđiều khiển xe mô tô ngang qua, thấy vậy Huyền có đến can ngăn bà H và anh P thì bị anh P chửi lại. Ngay sau đó anh P chở chị Quyên về nhà nghỉ Phúc An, xã Phước Tân, huyện X. Do bực tức vì bị anh P chửi, Huyền kêu Tú lấy xe máy chở Huyền đuổi theo anh P, trên đường đuổi theo Huyền gọi điện cho Lê Thanh H nói Hưng kêu thêm người ra hỗ trợ Huyền và hẹn gặp ở gần quán cà phê “Nhớ” thuộc ấp Việt Kiều, xã Phước Tân, huyện X. Lê Thanh H điện thoại gọi rủ Nguyễn Thanh C, Cường rủ Nguyễn Thanh H cùng 03 đối tượng Minh và Tuấn chưa rõ lai lịch (bạn của Huyền), Hưng nói mọi người biết Huyền gặp chuyện tức đang đánh nhau với ai đó cần hỗ trợ, nghe vậy cả nhóm chuẩn bị 03 bình xịt hơi cay, 06 cây rựa. Khi đến quán cà phê Nhớ cả nhóm 07 người gồm: Nguyễn Mạnh Huyền, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Lê Thanh H, Huỳnh Ngọc Tvà 02 đối tượng tên Tuấn, Minh là bạn của Huyền (chưa rõ lai lịch) cùng tập trung tại quán cà phê Nhớ. Tại đây, Tú chạy xe chở Huyền chạy trước, cả nhóm chạy theo sau đi đến nhà nghỉ Phúc An để gặp P. Khi đến nhà nghỉ, thấy P trên tay cầm 01 cây dao tự chế giơ lên thì Huyền và P tiếp tục cãi nhau. Sau đó, cả nhóm của Huyền xông vào dùng bình xịt hơi cay, rựa tấn công anh Vũ Huỳnh P.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra ở phần đầu và phần tay đối với anh Vũ Huỳnh P là 38% theo kết luận giám định số 369/TCT ngày 24/12/2020 và kết luận giám định pháp y bổ sung số 21/TCT ngày 21/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Huỳnh Ngọc Tú, Lê Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
2.2 Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 06 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Thanh C 06 năm tù; bị cáo Lê Thanh H 07 năm tù; bị cáo Huỳnh Ngọc T07 năm 06 tháng tù là phù hợp với qui định của pháp luật. Bị hại cũng không có ý kiến gì về phần hình phạt đối với các bị cáo nêu trên.
Đối với yêu cầu xem xét vai trò của bà Tạ Thụy H trong vụ án: Bị hại cho rằng bà Tạ Thụy H là chủ mưu trong vụ án, trực tiếp gọi người đến gây gỗ với bị hại, là nguyên nhân chính dẫn đến việc nhóm của Nguyễn Mạnh Huyền đánh bị hại thương tích 38%. Vấn đề này, Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ 02 lần để làm rõ vai trò của bà H cũng như các đối tượng liên quan khác trong vụ án, tại bản án sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 06/5/2021, Tòa án nhân dân huyện X đã kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét, làm rõ vai trò của bà H, nếu có cơ sở sẽ khởi tố, xem xét trong vụ án khác. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại anh Vũ Huỳnh P có cung cấp cho Thư ký phiên tòa đoạn video thể hiện nội dung giữa bị hại và bà Tạ Thụy H có lời qua tiếng lại với nhau, bà H cũng có lời lẽ đe dọa bị hại nhưng cũng không có căn cứ xác định bà H đã trực tiếp gọi điện cho đối tượng tên Nguyễn Mạnh Huyền như lời khai của bị hại. Do đây là chứng cứ mới nên Hội đồng xét xử quyết định nghị án kéo dài và đề nghị bị hại trích xuất nội dung trong đoạn video nói trên, cung cấp cho Tòa án để xem xét một cách toàn diện, khách quan nhưng bị hại không thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không có chứng cứ nào khác so với các chứng cứ đã được thu thập trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và vai trò của bà Tạ Thụy H trong vụ án vẫn đang được Cơ quan điều tra Công an huyện X xem xét, làm rõ nên cấp phúc thẩm không có căn cứ để xem xét lại.
Đối với các nội dung kháng cáo khác của bị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Thứ nhất, bị hại cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Khai báo thành khẩn” cho cả 04 bị cáo trong khi các bị cáo khai báo quanh co là không phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi xem xét hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định các bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án đã tích cực hợp tác, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cấp sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 cho các bị cáo là hoàn toàn phù hợp.
Thứ hai, bị hại cho rằng nội dung cáo trạng không đúng với lời khai ban đầu của bị hại và người làm chứng. Hội đồng xét xử cho rằng bản cáo trạng của Viện kiểm sát huyện X là văn bản bao quát toàn bộ sự việc, căn cứ vào lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và tất cả các chứng cứ trong vụ án. Từ đó thể hiện đầy đủ, toàn diện nội dung vụ án, việc bị hại cho rằng cáo trạng không đúng như lời khai của bị hại và người làm chứng là chủ quan, phiến diện nên không có căn cứ chấp nhận.
Thứ ba, bị hại cho rằng cấp sơ thẩm đã không mời được nhân chứng trong vụ án và không công bố lời khai của họ. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập hợp lệ người làm chứng, tuy nhiên đến thời điểm mở phiên tòa, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án có thể tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng và công bố lời khai của họ nếu lời khai đó là quan trọng và cần thiết. Vì vậy, vấn đề kháng cáo này của bị hại là không có cơ sở.
Cuối cùng, bị hại cho rằng Hội đồng xét xử sơ thẩm không ghi nhận ý kiến và lời khai của bị hại tại phiên tòa nhưng không có chứng cứ chứng minh trong khi biên bản phiên tòa và nội dung của bản án sơ thẩm đã thể hiện đầy đủ các lời khai cũng như phần trình bày của những người tham gia tố tụng trong đó có cả bị hại.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận
kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên các bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Vũ Huỳnh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thanh C, Huỳnh Ngọc Tvà Lê Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh H (Nhí) 06 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2020;
Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh C 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2020; tuyên phạt bị cáo Lê Thanh H (Bối) 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/02/2020; tuyên phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T(Trụi) 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2020.
2. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện X tiếp tục điều tra hành vi của đối tượng tên Minh và tên Tuấn, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý bằng một vụ án khác, kiến nghị tiếp tục xem xét vai trò của bà Tạ Thụy H trong vụ án nếu có căn cứ sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
3. Bị hại; các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC; - TAND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh BR – VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR – VT; - PV 27 – Công an tỉnh BR – VT; - TAND Huyện X; - VKSND Huyện X; - Công an Huyện X; - Chi cục THA DS Huyện X; - Các bị cáo; - Lưu, Tòa hình sự, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thái Hùng |