vanban.org

Bản án 103/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Biển cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố Tng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật tố Tng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 103/2021/HS-ST.
Ngày: 23 - 11 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Bích Phượng. Nghề nghiệp: Cán bộ.

Nơi công tác: Phòng Tư pháp huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

2. Ông Tạ Văn Nhật. Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

Nơi cư trú: Xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2021/HSST-QĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021, đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn B, sinh năm 1997 tại Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N; có vợ và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 230 do Công an huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội lập ngày 22/6/2021; tạm giữ, tạm giam: Không; có mặt.

- Bị hại: Anh Quách Văn C. sinh năm 1979; nơi cư trú: Cụm 7, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- 1 -

+ Ông Quách Văn C, sinh năm 1956; nơi cư trú: Cụm 7, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Quách Văn T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Cụm 7, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Khắc T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ dân phố Hạ 12, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Khắc D, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố Hạ 12, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Cụm 7, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên Quách Văn C, sinh năm 1979 ở cụm 7, xã T, huyện Đ có vay của Nguyễn Khắc T, sinh năm 1993 ở Tổ dân phố Hạ 12, phường T, quận B số tiền 3.000.000 đồng, mỗi lần trả lãi 10 ngày/150.000 đồng, sau hai lần trả lãi thì anh C không có khả năng trả lãi. Đến khoảng 19 giờ ngày 20/9/2020, T cùng với Nguyễn Khắc D, sinh năm 1992 ở Tổ dân phố Hạ 12, phường T, quận B; Nguyễn Văn B, sinh năm 1997 ở Tổ dân phố Trung 5, phường T, quận B và Nguyễn Khắc N, sinh năm 1992 ở Tổ dân phố Hạ 10, phường T, quận B đi ăn ở khu vực xã T, đã vào nhà anh C mục đích đòi tiền. Khi đến nhà, tất cả chỉ gặp được cháu Quách Tuấn H, sinh năm 2008 (là con trai anh C) trả lời “bố cháu không có nhà” nên tất cả cùng ra ngoài đường ngồi chờ, uống nước. Sau khoảng 30 phút, cả nhóm quay lại nhà anh C thì vẫn không gặp được nên quay ra cổng để đi về thì gặp anh C chạy từ ngoài vào trong trên tay cầm một thanh kiếm bằng kim loại, sáng trắng, dài khoảng 70cm chạy từ ngoài cổng vào trong nhà, cả nhóm bỏ chạy vào trong sân nhà anh C. B chạy qua cửa ngách để sang sân nhà bên cạnh, còn D, T và N vẫn ở trong sân. Khi B chạy sang sân nhà bên cạnh thì thấy không có lối chạy tiếp nên quay lại thấy anh C đang giơ thanh kiếm chém D một cái vào phần trán phải, D chạy vào chỗ móc phơi quần áo ở gần sân. Thấy B, C giơ kiếm định chém thì B nhìn thấy một chiếc điếu cày bằng inox, màu trắng, sáng dài khoảng 70cm đang để trong chiếc xô nhựa gần đó nên đã cầm lấy chiếc điếu cày và giơ lên đỡ. D thấy anh C quay đi thì đứng dậy ôm anh C để giằng thanh kiếm không cho anh C đánh ai nữa. Khi cả hai đang giằng co, mặt anh C hướng ra ngoài thì B đã dùng tay phải cầm điếu cày vụt một cái trúng vào vùng mắt và gò má phải, 1 cái vào vai, một cái vào lưng khiến anh C bị ngất. D thấy vậy

- 2 -

nói “thôi đi, không đánh nhau nữa”. Nghe tiếng ồn ào thì anh Quách Văn T, sinh năm 1986 ở cụm 7, xã T, Đ (là em trai anh C) chạy sang thì bị một người (hiện chưa xác định cụ thể ai) dùng vật sáng màu vụt một cái vào vùng trán. Sau đó, anh T nhặt một chiếc gậy gỗ dài khoảng 70cm gần đó vụt một cái vào bả vai D, rồi ném gậy tại hiện trường và chạy qua cửa ngách về phòng của mình khoá cửa lại. Ông Quách Văn C, sinh năm 1956 (là bố đẻ anh C) thấy T ôm đầu chạy nên đi xuống xem thì bị T vung chiếc ví da vào mặt. Ông C hô hoán mọi người nên B, D bỏ chạy ra ngoài và đi về. Trên đường bỏ chạy B đã vứt chiếc điếu cày xuống giếng gần nhà anh C. Anh C, anh T phải đi Bệnh viện huyện Hoài Đức điều trị, còn anh D được đưa đi điều trị tại Bệnh viện E Hà Nội.

- Tại bản kết luận giám định thương tích số 1178/TTPY ngày 25/11/2020 của Trung tâm pháp y Hà Nội đối với Quách Văn C, sinh năm 1979, nơi cư trú: Cụm 7, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, kết luận: Các sẹo vết thương, vết mổ, vết sây sát: 08%; gãy cung tiếp gò má phải: 10%; gãy thành hốc mắt phải: 07%;

+ Các chạm thương phần mềm vùng gò má phải, mắt phải còn sưng nề; Vùng gáy, cẳng tay trái, cẳng chân 2 bên không sưng nề bầm tím, không có chương mục nào quy đinh tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng của tổn thương gãy thành hốc mắt phải. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ.

+ Nhiều khả năng thương tích do vật tày, tày có cạnh gây nên. Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 23%. Tính theo phương pháp cộng lùi.

- Tại bản kết luận giám định thương tích số 1177/TTPY ngày 25/11/2020 của Trung tâm pháp y Hà Nội đối với Quách Văn T, kết luận: Sẹo vết thương vùng chán: 03%. Nhiều khả năng thương tích do vật tày có cạnh gây nên. Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 03%.

- Tại bản kết luận giám định thương tích số 454/TTPY ngày 23/4/2021 của Trung tâm pháp y Hà Nội đối với Nguyễn Khắc D, kết luận: Sẹo vết thương vùng đỉnh phải: 02%. Nhiều khả năng thương tích do vật tày có cạnh gây nên. Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 02%.

Bản Cáo trạng số 100/CT-VKS-ĐP ngày 20 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận hành vi của mình như nội dung đã nêu trên. Bị cáo cũng nhận thức hành vi của mình là sai trái nên xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo B từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù nhưng cho

- 3 -

hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Về trách nhiệm dân sự, do các bên đã tự thỏa thuận xong nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố Tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố Tng khác không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố Tng, người tiến hành tố Tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố Tụng của Cơ quan tiến hành tố Tụng, người tiến hành tố Tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do mâu thuẫn trong việc vay nợ nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/9/2020 tại nhà anh Quách Văn C ở Cụm 7, xã T, huyện Đ, Quách Văn C đã dùng kiếm chém Nguyễn Khắc D gây thương tích 2%, Nguyễn Văn B đã dùng điếu cày bằng inox đánh vào mặt và người Quách Văn C gây thương tích 23%.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B dùng hung khí nguy hiểm là chiếc điếu cày bằng Inox đánh vào mặt và người anh Quách Văn C gây thương tích 23%, đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo B là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, mà còn làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để C tạo, giáo dục bị cáo.

Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo Nguyễn Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối C; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại và bị hại cũng là người có phần lỗi trong sự việc xảy ra nên đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có địa chỉ cư trú rõ ràng và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử thấy chưa nhất thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, mà xử phạt tù nhưng cho bị cáo

- 4 -

được C tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với thương tích của ông Quách Văn C, tuy nhiên ông C từ chối đi giám định và có đơn xin rút đơn yêu cầu với lý do vì thương tích nhẹ, đã phục hồi không ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xem xét, xử lý về hình sự hành vi của Nguyễn Khắc T gây thương tích cho ông C là có căn cứ.

Đối với thương tích của anh Nguyễn Khắc D xác định do anh Quách Văn C gây nên và thương tích của anh Quách Văn T do Nguyễn Khắc N gây nên. Quá trình điều tra ngày 03/6/2021 và ngày 31/5/2021 anh D và anh T đã có đơn đề nghị không khởi tố và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người gây ra thương tích cho mình. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng không đề nghị xem xét, xử lý về hình sự mà ra quyết định xử lý hành chính đối với những người trên là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Khắc N, quá trình điều tra Cơ quan Công an đã nhiều lần triệu tập nhưng hiện N không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để xử lý đối với hành vi của Nguyễn Khắc N.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn B đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh Quách Văn C số tiền là 70.000.000 đồng. Anh C không yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Khắc D, anh Quách Văn T và ông Quách Văn C cũng không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên không phải xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm các vật chứng liên quan trong vụ án là chiếc điếu cày, gậy gỗ, chiếc kiếm nhưng không thu giữ được nên không phải xem xét, xử lý.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố Tng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố Tng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều

- 5 -

65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân phường T, quận B, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường dân sự; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố Tng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố Tng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại anh Quách Văn C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Thành phố Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Đan Phượng;

- CCTHADS huyện Đan Phượng;

- CQTHAHS huyện Đan Phượng;

- Bị cáo,...................;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Doãn Văn Tuyến

- 6 -

Cỡ chữ