vanban.org

Bản án 103/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 07/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thái Hiền H3, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 245/2020/HS-ST ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T. [2] Căn cứ điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2021/HS-PT
Ngày: 07-04-2021

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N N TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn.

Các Thẩm phán: Bà Lê Hồng Hương.

Bà Đinh Thị Kiều Lương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 04 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2021/TLPT-HS ngày 15 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo Đinh Công H do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 245/2020/HS-ST ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T.

- Bị cáo:

Họ và tên: Đinh Công H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: số nhà 49, thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Xuân H1, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1954; Gia đình có chín chị em, bị cáo là con thứ chín; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Công H:

- Luật sư Nguyễn Thế K, Công ty luật TNHH MTV K - Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

Địa chỉ: 1030/16 Nguyễn Ái Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Luật sư Trần Minh H, Văn phòng luật sư G – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Địa chỉ: 5/1 Nguyễn D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Thái Hiền H3, sinh năm 1975.

Địa chỉ: số nhà 48 thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Lê Quang Y và Luật sư Nguyễn Trọng Y2, Luật sư Lê Thị Tú O, Luật sư Trần Thị Thanh N và Luật sư Nguyễn Văn A thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

Địa chỉ: 325 Đồng K, khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1970. (có mặt)

Địa chỉ: số nhà 48 thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1954. (có mặt)

2. Ông Đinh Xuân H1, sinh năm 1953 . (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: số nhà 49, thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

3. Anh Đinh Quốc P, sinh năm 1990. (có mặt)

Địa chỉ: thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

4. Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1981. (có mặt)

5. Chị Nguyễn Thị Thủy T2, sinh năm 1983. (có mặt)

Cùng địa chỉ: số nhà 48, thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

6. Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1975. (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

7. Anh Dương Đức Tuấn M, sinh năm 1984. (có mặt)

Địa chỉ: thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI UNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn giữa hai gia đình Đinh Công H và gia đình Nguyễn Thị Thùy T từ trước, nên vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 20/7/2019, khi H điều khiển xe môtô 60B8-985.47 đi ngang nhà chị T thì bị đèn pin rọi vào mặt. H cho rằng nhà chị T cố ý rọi đèn vào mặt mình nên sau khi về nhà H đứng trong sân chửi gia đình chị T thì giữa H và chị T xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Chị T chạy đến đánh H nhưng H tránh được. Sau đó H dùng tay phải đấm 01 cái vào mặt chị T làm chị T ngã xuống đất rồi H dùng chân đá tiếp 02 cái vào đầu và người chị T. Ông Đinh Xuân H1 và bà Nguyễn Thị H2 (bố, mẹ ruột của H) cũng đến can ngăn và kéo H về nhà. Sau khi H về thì chị T1 (em gái chị T) đưa chị T vào nhà rồi gọi điện thoại cho em trai là anh Nguyễn Thái Hiền H3 kể lại sự việc nói trên. Khi anh H3 đến thấy chị T bị thương nên đi qua nhà H để nói chuyện. Lúc này chị T và chị T1 đi theo sau cách anh H3 khoảng 03 mét, khi đi qua nhà H thì anh H3 nhặt 01 khúc cây tròn (dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 1,5cm) ở ngoài đường cầm trên tay phải đi đến phần đất phía trước nhà H. Anh H3 thấy H đang đứng ở trong nhà nên hỏi lý do H đánh chị T thì giữa anh H3 và H xảy ra mâu thuẫn thách thức đánh nhau. Thấy vậy, ông H1 đến can ngăn không cho H3 đi vào đánh nhau với H thì bị anh H3 đẩy ngã. Bà H2 và anh Đinh Quốc P (là hàng xóm nhà H) đang đứng ở phần đất phía trước sát thềm nhà H cũng đi đến ôm anh H3 để ngăn cản không cho anh H3 đi vào đánh H. Thấy ông H1 bị anh H3 đẩy ngã nên H chạy đến đ ông H1 dậy rồi nhặt một viên gạch lát nền hình chữ nhật (có kích thước dài khoảng 60cm, rộng khoảng 10cm, dày khoảng 01cm) ở sát thềm nhà cầm trên hai tay chạy tới (dùng phần cạnh của viên gạch) đánh 02 cái từ trên xuống vào người anh H3, anh H3 giơ tay trái lên đ nên bị đánh trúng 02 cái vào cánh tay trái, chị T thấy anh H3 bị đánh nên chạy đến đẩy H ngã, H kéo chị T ngã theo xuống đất, sau đó giữa H và chị T xảy ra xô xát, vật lộn với nhau dưới đất. Lúc này ông H1, bà Hoa, anh H3, chị T1 và chị Nguyễn Thị Thủy T2 (em ruột chị T) xông vào dùng tay giằng co, xô đẩy nhau, còn anh Phong và một số người dân vào can ngăn thì hai bên đi về nhà.

Bị đánh gây thương tích chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Nguyễn Thái Hiền H3 được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa T, tỉnh Đồng Nai khám và điều trị thương tích. Đến ngày 21/7/2019 anh H3, chị T đến Công an xã B tố cáo Đinh Công H về hành vi gây thương tích nói trên.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 thẻ nhớ USB (màu đen hiệu Datatravaler KingSton, bộ nhớ 16GB) có chứa Video clip ghi nhận diễn biến vụ việc trên do chị Nguyễn Thị Thùy T cung cấp; 01 (một) thanh sắt hình vuông (kích thước 02x02cm, dài 1,1m) do ông Đinh Xuân H1 tự nguyện giao nộp (theo ông H1 khai đây là thanh sắt mà T dùng đánh bà H2).

Ngày 09/9/2019 Cơ quan Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai giám định thương tích đối với chị Nguyễn Thị Thùy T, anh Nguyễn Thái Hiền H3.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0830/TgT/2019 ngày 20/9/2019 của Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Nai kết luận chị Nguyễn Thị Thùy T bị thương tích:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Vết thương xuyên thấu vành tai trái hiện để lại sẹo kích thước 1,7x0,3cm, sẹo xơ dính, co rúm vành tai (Áp dụng Chương 13, điều I, mục 5.2) Tỷ lệ: 07%;

+ Sẹo khuỷu tay phải kích thước 03x0,7cm (Áp dụng Chương 9, Điều I, mục 1). Tỷ lệ: 01%;

+ Sẹo khuỷu tay trái kích thước 01x0,5cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 01%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 09% (Chín phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích:

+ Thương tích vành tai trái do vật sắc;

+ Thương tích khuỷu tay hai bên, cánh tay trái và bàn tay phải do vật tày.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0831/TgT/2019 ngày 20/9/2019 của Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Nai kết luận anh Nguyễn Thái Hiền H3 bị thương tích:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thương gãy 1/3 dưới xương trụ trái hiện can xấu, gồ, trục lệch (Áp dụng Chương 8, điều II, mục 10.2). Tỷ lệ: 21%;

- Sẹo mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay trái (ngang cửa sổ bột) kích thước 01x0,3cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 01%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 22% (Hai mươi hai phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: Vật tày.

Ngày 31/3/2020 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã có Quyết định trưng cầu giám định số: 169/QĐ đến Trung tâm pháp y - Sở y tế Đồng Nai về cơ chế hình thành thương tích của anh Nguyễn Thái Hiền H3. Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số: 0252/GĐHS/2020 ngày 09/4/2020 kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định hồ sơ án và tài liệu hiện có:

- Vào khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 20/7/2019 nạn nhân Nguyễn Thái Hiền H3 bị đánh gây thương tích.

- Tổn thương chính: Vết sưng bầm tím mặt sau cánh tay trái hiện đã khỏi, để lại vết thâm da kích thước 02x2,5cm, vận động cánh tay trái bình thường. Sẹo mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay trái (ngang cửa sổ bột) kích thước 01x0,3cm, vận động các ngón tay trái bình thường, các ngón tay trái ấm hồng. Gãy 1/3 dưới xương trụ.

2. Kết luận theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định:

- Hung khí theo mô tả của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai gồm “Thanh gỗ hình chữ nhật có đóng đinh ở một đầu dài khoảng 100cm, rộng khoảng 10cm, dày khoảng 1,5cm” và “viên gạch lát nền hình chữ nhật dài 60cm, rộng khoảng 10cm, dày khoảng 01cm” nếu tác động sẽ gây ra tổn thương theo cơ chế vật tày cứng hoặc vật tày có cạnh.

- Vết sưng bầm tím mặt sau cánh tay trái hiện đã khỏi, để lại vết thâm da kích thước 02x2,5cm. Tổn thương này do vật tày tác động lực nhẹ vào vị trí mặt sau cánh tay trái gây ra. Thanh gỗ hay viên gạch như mô tả ở trên có thể gây ra tổn thương này.

- Tổn thương rách da để lại sẹo mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước 01x0,3cm, gãy 1/3 dưới xương trụ trái. Tổn thương này do vật tày có cạnh tác động lực mạnh vào vị trí 1/3 dưới mặt sau trong cẳng tay trái với lực mạnh gây ra. Nếu nạn nhân bị đánh vùng đầu theo phản xạ sinh học tự nhiên nạn nhân sẽ đưa tay lên đ , thì tổn thương này phù hợp với vật tày có cạnh tác động theo hướng từ trên xuống dưới vào mặt trong 1/3 dưới cẳng tay trái. Thanh gỗ hay viên gạch như mô tả ở trên có thể gây ra tổn thương này.

Trong lúc gia đình bị cáo Đinh Công H và gia đình người bị hại anh Nguyễn Thái Hiền H3 xô xát nhau làm cho bà Nguyễn Thị H2 bị té ngã, gây thương tích ở lưng với tỷ lệ tổn thương cơ thể 25% (theo bản kết luận pháp y về thương tích số: 0847/TgT/2019 ngày 18/10/2019 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đồng Nai.

Đối với viên gạch lát nền hình chữ nhật (có đặc điểm dài khoảng 60cm, rộng khoảng 10cm, dày khoảng 01cm) mà bị cáo Đinh Công H sử dụng đánh anh Nguyễn Thái Hiền H3; 01 khúc cây tròn (dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 1,5cm) mà anh Nguyễn Thái Hiền H3 mang theo khi đi qua nhà bị cáo Đinh Công H; 01 thanh gỗ hình chữ nhật (dài khoảng 60cm, rộng khoảng 10cm, dày khoảng 02cm) mà chị Nguyễn Thị Thùy T khai là cây thước gỗ dùng để đo áo quần dùng để tự vệ khi Đinh Công H đứng trước nhà chửi; 01 thanh gỗ hình chữ nhật có đóng đinh một đầu (dài khoảng 100cm, rộng khoảng 10cm, dày khoảng 1,5cm) mà H3 khai do H dùng đánh H3; 01 khúc cây gỗ (dài khoảng 60cm, rộng khoảng 10cm, dày khoảng 02cm) mà T1 cầm khua qua lại khi H đánh nhau với chị T; 01 hung khí (không rõ đặc điểm) mà bà H2, H và ông H1 khai do Tiên (em của chị T) cầm lúc chị T và H đánh nhau ở nhà chị T; 01 tuýp sắt (dài khoảng 70cm, đường kính khoảng 02cm) mà H khai thấy anh H3 cầm đánh trúng ông H1. Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm thấy nên không thu hồi được.

Tại bản Cáo trạng số 205/CT-VKS-TB ngày 20/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện T để xét xử đối với bị cáo Đinh Công H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 245/2020/HS-ST ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T đã áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt: bị cáo Đinh Công H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, bồi thường dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 25/11/2020, bị hại anh Nguyễn Thái Hiền H3 kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Đinh Công H.

Ngày 27/11/2020, bị cáo Đinh Công H kháng cáo yêu cầu tuyên vô tội. Ngày 19 tháng 03 năm 2021, bị cáo Đinh Công H đã có đơn rút toàn bộ kháng cáo.

Tại phiên tòa, bị hại giữ nguyên kháng cáo, tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét.

Đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm:

Hành vi của bị cáo Đinh Công H đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Tại bản án sơ thẩm số 245/2020/HS-ST ngày 16/11/2020 Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đinh Công H với mức án 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm.

Ngày 25/11/2020, bị hại anh Nguyễn Thái Hiền H3 kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.

Ngày 27/11/2020, bị cáo Đinh Công H kháng cáo đề nghị tuyên vô tội. Ngày 19/3/2021 bị cáo có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Căn cứ vào khoản 2 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã thông báo về việc rút kháng cáo của bị cáo là đúng quy định pháp luật.

Bị hại Nguyễn Thái Hiền H3 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo nhưng không có tình tiết nào khác chưa được xem xét, không cung cấp được tình tiết mới. Xét mức án mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị HĐXX bác kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các luật sư bào chữa cho bị cáo Đinh Công H nêu quan điểm:

Xác định hậu quả xảy ra có một phần lỗi của phía bị hại và người nhà của bị hại đã cầm hung khí kéo sang nhà bị cáo gây gổ và tấn công bị cáo và gia đình bị cáo trước, đây là hành vi xâm phạm chỗ ở bất hợp pháp, có thể xem hành vi của bị cáo là phòng vệ chính đáng để chống trả lại người tấn công của phía bị hại và gia đình bị hại.

Đối với kết quả giám định tỷ lệ thương tật của bị hại được kết luận là 22% là chưa khách quan, không phù hợp với thực tế thương tật của bị hại theo quy định tại Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần và việc Cơ quan điều tra cấp huyện tách hành vi gây thương tích cho bà H2 (là mẹ bị cáo) để xử lý sau là chưa phù hợp với sự thật khách quan của vụ án.

Bị cáo đã rút kháng cáo, đề nghị HĐXX xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường một phần để khắc phục hậu quả để áp dụng cho bị cáo 01 mức án phù hợp, đúng quy định pháp luật.

Các Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nêu quan điểm:

Lời khai của bị cáo cho rằng gia đình bị hại đã rọi đèn pin vào mặt bị cáo là không đúng, không chứng minh được ai là người rọi đền pin và không thu giữ được vật chứng. Trong lúc 02 bên cãi vả nhau bị cáo đã thể hiện bản tính hung hãn, côn đồ liên tục đấm đá hết sức dã man vào người chị T là chị của bị hại trong khi đó chị T lại là phụ nữ.

Hành vi của bị cáo không phải là phòng vệ chính đáng mà có chủ ý, bị cáo đã dùng viên gạch là hung khí nguy hiểm đánh mạnh nhiều cái vào đầu bị hại, bị hại đưa tay lên chống đở đã bị thương tích gãy tay.

Nguyên nhân bị hại đến nhà bị cáo là do bức xúc việc người nhà bị hại (là chị T) bị bị cáo H đánh; Không có hành vi xâm phạm chỗ ở người khác như lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo đã nêu.

Trong vụ án này, bị hại không có lỗi, lỗi hoàn toàn là do bị cáo đã gây ra. Từ khi vụ án xảy ra đến nay, bị cáo đều không tỏ thái độ ăn năn hối cải, thậm chí bị cáo còn có nhiều hành động thách thức, khiêu khích gia đình bị hại, đồng thời bị cáo chưa bồi thường chi phí thuốc men cho bị hại, cho nên không được xem xét giảm nhẹ. Bên cạnh đó, tuy chị T chỉ bị thương tích 9% nhưng hành vi của bị cáo là côn đồ cho nên cần phải khởi tố để tránh bỏ lọt tội phạm.

Tóm lại, bị cáo Đinh Công H phạm tội có tính chất côn đồ, chưa bồi thường khắc phục hậu quả, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử cho bị cáo được hưởng án treo là không phù hợp, chưa đủ sức răn đe, đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm theo hướng chuyển bị cáo sang hình phạt tù giam để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Ngày 27/11/2020, bị cáo Đinh Công H kháng cáo yêu cầu tuyên vô tội, nhưng ngày 19 tháng 03 năm 2021, bị cáo Đinh Công H đã có đơn rút toàn bộ kháng cáo nên ngày 22/03/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ban hành thông báo số 26/2021/TB-TA về việc rút kháng cáo của bị cáo Đinh Công H. Do đó, HĐXX quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đinh Công H.

[2] Xét kháng cáo của bị hại:

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Công H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện:

Giữa gia đình của bị cáo Đinh Công H và gia đình bị hại anh Nguyễn Thái Hiền H3 có phát sinh mâu thuẫn từ trước. Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 20/7/2020 giữa bị cáo và chị Nguyễn Thị Thùy T (chị của người bị hại anh Nguyễn Thái Hiền H3) có xảy ra cãi nhau dẫn đến xô xát, bị cáo dùng chân tay đánh chị T và được mọi người can ngăn. Khoảng 15 phút sau anh H3 về nhà và biết được việc xô xát giữa chị T và bị cáo. Do tức giận việc chị T bị đánh, anh H3 nhặt một khúc cây gỗ trên đường và đi sang nhà bị cáo để nói chuyện. Khi bị hại đến trước nhà bị cáo (nhà bị cáo không có cổng, sát đường) là hiện trường xảy ra vụ án, ba mẹ của bị cáo là ông H1 và bà H2 cùng với hàng xóm là anh Đinh Quốc P đến can ngăn anh H3, anh H3 đẩy ngã ông H1, thấy vậy bị cáo H đã dùng hung khí là viên gạch bông (có kích thước dài khoảng 60cm, rộng khoảng 10cm, dày khoảng 1cm) đánh trúng vào tay trái của anh H3 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 22% (hai mươi hai phần trăm).

Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Đinh Công H đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người bị hại. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước khi mở phiên tòa bị cáo đã tự nguyện nộp tiền để khắc phục một phần hậu quả đã gây ra; người bị hại cũng có một phần lỗi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). HĐXX phúc thẩm xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, áp dụng Điều 65 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) cho bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục là cũng đủ nghiêm, phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về điều kiện hưởng án treo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải và không nhẹ như kháng cáo của bị hại đã nêu.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Thái Hiền H3 yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền sau: Chi phí điều trị thương tích 1.953.837 đồng; thu nhập bị mất từ công việc bán bảo hiểm (từ 21/7/2019 đến hết tháng 10/2019), mỗi tháng 30.000.000 đồng trong 03 tháng, tổng số tiền là 90.000.000 đồng; thu nhập bị mất đối với công việc gia công hạt nhựa: 500.000 đồng/ngày trong 78 ngày, với tổng số tiền 39.000.000 đồng; tiền phải thuê thêm người bốc d hàng do bị gãy tay: 300.000 đồng trong 78 ngày, tổng số tiền 23.400.000 đồng; thu nhập bị mất đối với dịch vụ cung cấp thịt thỏ: 300.000 đồng trong 78 ngày, tổng số tiền là 23.400.000 đồng. Ngoài các khoản tiền trên, anh H3 còn yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho anh theo quy định pháp luật. Anh H3 xác định các khoản tiền bồi thường liên quan đến thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích là những công việc thực tế anh làm trước khi bị cáo gây thương tích cho anh, tuy nhiên anh H3 không có chứng cứ gì chứng minh. Cấp sơ thẩm đã chấp nhận các khoản: chi phí điều trị thương tích với số tiền 1.953.837 đồng, bồi thường tổn thất về tinh thần cho người bị hại với số tiền tương đương 10 tháng lương cơ sở số tiền 14.900.000 đồng (10 tháng x 1.490.000 đồng), tổng cộng 16.853.837 đồng (làm tròn thành 16.854.000 đồng (mười sáu triệu tám trăm năm mươi bốn nghìn đồng)) là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, bị hại kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt và bồi thường thiệt hại theo yêu cầu đã nộp tại cấp sơ thẩm nhưng không có tình tiết nào khác chưa được xem xét, không cung cấp được tình tiết nào mới do đó kháng cáo của bị hại không có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí: Bị cáo rút kháng cáo nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.

[4] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm và đề nghị của các Luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Quan điểm và đề nghị của các Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thái Hiền H3, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 245/2020/HS-ST ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T.

[2] Căn cứ điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao

Xử phạt bị cáo Đinh Công H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh Công H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 4 Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Giao cho anh Nguyễn Thái Hiền H3 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) mà bị cáo Đinh Công H đã nộp theo biên lai thu tiền số 01743 ngày 10/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Buộc bị cáo Đinh Công H tiếp tục bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Thái Hiền H3 số tiền 6.853.840 đồng (sáu triệu tám trăm năm mươi bốn nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án đối với các khoản tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ