vanban.org

Bản án 103/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Như H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy T.

Về con chung: Giao con chung là cháu Hà Gia B sinh ngày 14/4/2018 cho anh Hà Như H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm thời anh Hà Như H không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thùy T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Như H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 2257 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Văn Tài.

2. Bà Nguyễn Thị Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.

Vào ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2021/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2020,về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2021 và Thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 271/2021/TB-TA ngày 15 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hà Như H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ 2, ấp TL, xã XT, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ 2, ấp TL, xã XT, huyện Xl, tỉnh Đồng Nai.

(Anh Hà Như H và chị Nguyễn Thị Thùy T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai bổ sung, nguyên đơn anh Hà Như H trình bày: Trên cơ sở tự nguyện anh và chị Nguyễn Thị Thùy T sống chung và đăng ký kết hôn năm 2017, tại Ủy ban nhân dân xã XT, huyện Xl, tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống chung của vợ chông không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn, do tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, chị Nguyễn Thị Thùy T có những lời lẽ xúc phạm anh. Anh chị không sống chung từ tháng 5/2020 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể duy trì cuộc sống chung nên anh yêu cầu được ly hôn chị Nguyễn Thị Thùy T.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Thùy T có 01 người con là cháu Hà Gia B sinh ngày 14/4/2018, khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thùy T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay cháu Hà Gia B đang sống cùng với anh và bố mẹ anh, còn chị Nguyễn Thị Thùy T đã bỏ đi làm ăn, không còn quan tâm đến gia đình.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân nhân dân huyện Xuân Lộc: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và sự chấp hành pháp luật của các đương sự cơ bản đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Hà Như H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy T; Về con chung, giao cháu Hà Gia B sinh ngày 14/4/2018 cho anh Hà Như H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị Thùy T; Về tài sản chung và nợ chung, không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật: Anh Hà Như H khởi kiện yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị Thùy T và yêu cầu được trực tiếp nuôi con khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Thùy T có hộ khẩu thường trú tại ấp TL, xã XT, huyện Xl, nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc.

Về tư cách tham gia tố tụng: Anh Hà Như H khởi kiện yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị Thùy T nên anh Hà Như H là nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thùy T là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng: Anh Hà Như H có đơn xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Thùy T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, nên xét xử vắng mặt anh Hà Như H và chị Nguyễn Thị Thùy T là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 228 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Như H và chị Nguyễn Thị Thùy T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo luật định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Anh Hà Như H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn là do do tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, chị Nguyễn Thị Thùy T có những lời lẽ xúc phạm anh, vợ chồng anh chị đã không còn sống chung với nhau từ tháng 5/2020 đến nay. Qua xác minh tình trạng hôn nhân của anh Hà Như H và chị Nguyễn Thị Thùy T tại địa phương cho thấy vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn nên không còn chung sống với nhau. Chị Nguyễn Thị Thùy T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ chị Nguyễn Thị Thùy T không có mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Do đó đã có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh Hà Như H và chị Nguyễn Thị Thùy T đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận cho anh Hà Như H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy T là phù hợp.

Về con chung: Anh Hà Như H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là cháu Hà Gia B sinh ngày 14/4/2018. Xét thấy, hiện nay cháu Hà Gia B đang sống cùng với Hà Như H, chị Nguyễn Thị Thùy T không thường xuyên sinh sống tại địa phương, anh Hà Như H đang trực tiếp nuôi con. Do đó, giao con chung là cháu Hà Gia B cho anh Hà Như H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tạm thời anh Hà Như H không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thùy T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Hà Như H trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Anh Hà Như H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 2257 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Như H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy T.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Hà Gia B sinh ngày 14/4/2018 cho anh Hà Như H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Tạm thời anh Hà Như H không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thùy T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Thùy T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Khi cần thiết, anh Hà Như H va chị Nguyễn Thị Thùy T được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Anh Hà Như H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004888 ngày 25 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, anh Hà Như H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Hà Như H và chị Nguyễn Thị Thùy T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ