vanban.org

Bản án 103/2021/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.

Buộc anh Nguyễn Chí D và chị Lê Thị T phải có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Thị L số tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Kể từ ngày chị Phạm Thị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Chí D và chị Lê Thị T chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng anh D, chị T còn phải chịu thêm kho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Phạm Thị L - Nguyễn Chí D, Lê Thị T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2021/DS-ST
Ngày 28 - 6 - 2021
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Kết

Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 28 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 181/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/20210/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1973; cư trú tại: K4, thị trấn ĐD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

1. Anh Nguyễn Chí D; cư trú tại: Ấp NN, xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Chị Lê Thị T; cư trú tại: Ấp NN, xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Phạm Thị L trình bày: Chị L làm chủ hụi có mở các dây hụi, trong đó anh Nguyễn Chí D, chị Lê Thị T có tham gia các chưng hụi như sau:

Dây hụi 5.000.000đ, mở ngày 09/8/2018 âl, 01 tháng khui 01 lần, dây hụi có 32 chưng, vợ chồng anh D tham gia 02 chưng. Vợ chồng anh D hốt hụi ngày 09/01/2019 âl. Sau khi hốt hụi, vợ chồng anh D đóng hụi đến 09/4/2019 âl thì ngưng, không đóng hụi tiếp. Dây hụi này đến nay đã mãn, vợ chồng anh D nợ chị 23 kỳ x 5.000.000đ = 115.000.000đ.

Chưng còn lại, vợ chồng anh D đóng được 09 lần với số tiền là 45.000.000đ. Như vậy đối trừ 02 chưng hụi thì vợ chồng anh D còn nợ chị số tiền 70.000.000đ. Nay chị yêu cầu anh D, chị T trả số tiền nợ hụi là 70.000.000đ.

Đối với anh Nguyễn Chí D và chị Lê Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh chị không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị L.

Tại phiên tòa: Chị L giữ nguyên quan điểm, không có yêu cầu khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Chí D và chị Lê Thị T trả tiền nợ hụi là vụ kiện tranh chấp hụi, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tung: Anh D, chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh D, chị T.

Xét yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc các đương sự có tham gia chơi hụi và còn nợ tiền hụi là thực tế có xãy ra. Nay chị L yêu cầu anh D, chị T trả số tiền hụi còn nợ sau khi đối trừ là 70.000.000đ. Đối với anh D, chị T thì không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị L, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị L là chủ hụi, còn anh D, chị T là hụi viên. Trong quá trình chơi hụi, anh D và chị T sau khi hốt hụi không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng hụi cho chị L. Với vai trò là chủ hụi, chị L phải thực hiện nghĩa vụ đóng hụi thay của anh D, chị T đối với các hụi viên khác. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị L là có căn cứ nên được chấp nhận.

Xét về nghĩa vụ trả tiền, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc anh D tham gia chơi hụi thì chị T có biết. Đồng thời, chị T cũng biết được nội dung khởi kiện của chị L, nhưng chị không có ý kiến. Như vậy, khoản tiền nợ hụi nêu trên là khoản nợ chung của anh D và chị T được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, do đó anh D và chị T phải cùng có nghĩa vụ trả cho chị L là phù hợp.

Xét về án phí dân sự: Anh D, chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể: 70.000.000đ x 5% = 3.500.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 91; Điều 5; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.

1. Buộc anh Nguyễn Chí D và chị Lê Thị T phải có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Thị L số tiền là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng).

2. Kể từ ngày chị Phạm Thị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Chí D và chị Lê Thị T chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng anh D, chị T còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

3. Về án phí dân sự:

3.1. Anh Nguyễn Chí D và chị Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 3.500.000 đồng.

3.2. Chị Phạm Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị L 1.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0012017 ngày 28 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ