vanban.org

Bản án 103/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 24/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn K phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn K phạm tội: Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn K phạm tội: Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103 /2019/HS-ST
Ngày 24/07/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Chiều

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Hải

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: ông Ngô Quốc Hưng - chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 24/07/2019, tại hội trường Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2019/HS-ST ngày 03/06/2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/QĐXXST-HS ngày 28/06/2019 đối với bị cáo: Hà Văn K; tên gọi khác: không; sinh năm 1993; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Đồng Xuân, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: không nghề; trình độ văn hóa: Lớp 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Ch (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thọ; chưa có vợ; tiền sự: không.

- Tiền án: 01 tiền án.

+ Tại Bản án số 118/2017/HSST ngày 16/11/2017, Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội : Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong bản án chưa được xóa án tích).

- Nhân thân:

+ Năm 2017, Công an thị xã Phổ Yên xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt hành chính số 13/QĐXPHC ngày 03/01/2017, đã nộp phạt ngày 27/3/2017.

+ Tại bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án vào ngày 08/12/2018, Bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 chưa có hiệu lực pháp luật.

Hiện bị cáo bị đang thi hành án phạt tù tại Trại giam Quyết Tiến - Bộ Công an theo quyết định thi hành hành án số: 269/2018/QĐ-CA ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Có mặt

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hà Văn K là bà Nguyễn Thị Th; sinh năm 1971; Trú tại: xóm Đồng Xuân, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên ( là mẹ đẻ bị cáo). Có mặt

* Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn K: Bà Nguyễn Thị D, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên. Có mặt

* Người bị hại: anh Trần Văn T; sinh năm 1977; Nơi ĐKNKTT: xóm 4, xã An Giao, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Trần Văn Đông; sinh năm 1970; Trú tại: Tổ 10, phường Phú Lương, quận Hà Đông, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Ngô Văn Hải, sinh năm: 1990; Trú tại: Tổ dân

phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt

* Người chứng kiến: anh Tạ Văn Hưng, sinh năm: 1983; Trú tại: Tổ dân

phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ, ngày 8/12/2018, Hà Văn K đi bộ từ nhà đến chợ Cầu Gô thuộc xóm Đồng Xuân, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên rồi đi nhờ xe mô tô của người đi đường đến khu vực chợ An Bình, thuộc tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để chơi với bạn tên là Trang (tên gọi khác là Huyền, không rõ lý lịch). Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, K đi bộ từ phòng trọ của Trang về, khi đi qua cửa hàng bán quần áo “Trang Bi”, K quan sát thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu ghi – xanh, BKS 33L9-8733 của anh Trần Văn T (sinh năm 1977; Nơi ĐKNKTT: xóm 4, xã An Giao, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định mượn của Trần Văn Đ; sinh năm 1970; trú tại: tổ 10, phường Phú Lương, quận Hà Đ, thành phố Hà Nội) đang dựng chân chống phụ để tại vỉa hè trước cửa quán và không có người trông giữ, K liền nảy sinh ý định trộm cắp xe. K lại gần chiếc xe kiểm tra thì thấy xe không khóa cổ, K gạt chân chống phụ rồi dắt chiếc xe đi về hướng đập tràn An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên để tìm nơi tiêu thụ. Sau khi dắt bộ được khoảng 100m, K dừng lại vào cửa hàng sửa xe máy ở đối diện sân bóng An Bình để mượn tuốc nơ vít nhằm mục đích tháo mặt nạ, đấu nối dây nhằm mở khóa điện chiếc xe thì bị anh Ngô Văn Hải (Sinh năm 1990; trú tại: TDP An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) cùng một số người dân phát hiện bắt giữ giao cho Công an phường Đồng Tiến giải quyết theo quy định của pháp luật.

Qua xác minh, Hà Văn K được Ủy ban nhân dân xã Tiên Phong cấp giấy xác nhận khuyết tật từ năm 2013 (khuyết tật về trí tuệ mức độ nặng).

Tại bản Kết luận giám định số 87/KLGĐ ngày 26/3/2019 của Viện Pháp y tâm thần trung ương Bộ y tế, kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định đối tượng Hà Văn K bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F70. Tại các thời điểm trên đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”

Tại bản Kết luận đính giá số 82/KLĐG ngày 19/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã Phổ Yên, kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu ghi – xanh mang BKS 30L9-8733 mà K đã trộm cắp trị giá 5.600.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Hà Văn K khai nhận hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho người bị hại quản lý, sử dụng. Quá trình điều tra và trước khi mở phiên tòa hôm nay người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng tại và không yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự nên không đặt ra giải quyết.

Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKSPY ngày 31/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố bị cáo Hà Văn K về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết thúc thẩm vấn, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn K phạm tội: Trộm cắp tài sản:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, q, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Hà Văn K từ 12 đến 18 tháng tù .

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 21 - 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018.

* Hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp, sống phụ thuộc gia đình, là người khuyết tật và hạn chế năng khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp là chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu ghi – xanh mang BKS 30L9-8733 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho Nguyễn Văn T là người chiếm hữu, sử dụng chiếc xe trên tại thời điểm bị K trộm cắp và anh T, anh Đ là người chủ sở hữu chiếc xe trên không có ý kiến gì về phần dân sự nên không đặt ra giải quyết.

* Xử lý vật chứng: Không

*Án phí: Căn cứ Điều 135, 136; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và được quyền kháng cáo theo quy định.

* Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn K, bà Nguyễn Thị Dung trình bày bản luận cứ bào chữa và nêu quan điểm tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát như sau: Cơ bản nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về bản luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, tuy nhiên qua xem xét thấy bị cáo là người khuyết tật, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế vì vậy đề nghị xem xét xử phạt bị cáo mức án từ 06-09 tháng tù là phù hợp.

* Người đại diện cho bị cáo tại phiên tòa có ý kiến trình bày: Về hành vi phạm tội của bị cáo Hà Văn K người đại diện không có ý kiến gì tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.

* Ý kiến đối đáp của Viện kiểm sát: Trên cơ sở nội dung vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ bị cáo được hưởng, bị cáo lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo từ 12-18 tháng tù là đã cân nhắc đến hoàn cảnh và nhân thân bị cáo, vì vậy Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Bị cáo không có ý kiến bổ sung ý kiến tranh luận của người bào chữa và thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai. Lời nói cuối cùng bị cáo xin hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Hà Văn K tại phiên tòa hôm nay là khách quan, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra vụ án về thời gian, địa điểm, loại tài sản chiếm đoạt.

Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 21 giờ 00 phút, ngày 8/12/2018, tại tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Hà Văn K đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu ghi – xanh, BKS 33L9-8733( đăng ký mang tên anh Trần Văn Đ) do anh Trần Văn T đang chiếm hữu, sử dụng thì bị quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang. Giá trị chiếc xe mô tô do K trộm cắp đã được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã Phổ Yên xác định trị có giá trị còn lại là 5.600.000 đồng.

Hành vi, ý thức của Hà Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó bản cáo trạng số 94/CT-VKSPY, ngày 31/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Nội dung khoản 1 Điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

.........................

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Xét tính chất vụ án thấy: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích chiếm đoạt tài sản để lấy tiền tiêu sài cá nhân, hành vi của bị cáo xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi đó cần được nghiêm trị.

Về nhân thân: Bị cáo đã có 01 tiền án, năm 2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội : Trộm cắp tài sản tại bản án số 118/2017/HSST ngày 16/11/2017(đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 15/5/2019 chưa được xóa án tích), lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm.

Ngoài ra bị cáo là người có nhân thân rất xấu: Năm 2017, Công an thị xã Phổ Yên xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã nộp phạt ngày 27/3/2017). Năm 2018 Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Do tại thời điểm thực bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án ngày 08/12/2018( vụ án bị đưa ra xét xử ngày hôm nay) thì bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 chưa có hiệu lực pháp luật nên bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 không được coi là tiền án đối với bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy: Bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai rõ toàn bộ diễn biến, hành vi cũng như cách thức, thủ đoạn thực hiện hành vi trộm cắp cho đến khi bị phát hiện bắt quả tang, tại phiên tòa bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là trái pháp luật, ăn năn hối cải, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã được thu hồi ngay trả lại cho người bị hại, bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là tái phạm.

Nhận định của Hội đồng xét xử khi lượng hình thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo rất táo bạo, liều lĩnh, gây mất trật tự trị an tại địa phương, mặc dù là người có nhược điểm về thể chất, tâm thần, hạn chế khả năng nhận thức, tuy nhiên trong thời gian từ năm 2017 đến nay bị cáo liên tiếp thực hiện nhiều vụ trộm cắp trên địa bàn thị xã Phổ Yên và đã bị đưa ra xét xử, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, sửa chữa lỗi lầm, làm ăn lương thiện, trái lại tiếp tục phạm tội , hành vi của bị cáo gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, do đó cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tại Trại giam Quyết Tiến, Bộ Công an. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của lần phạm tội này với hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự thành hình phạt chung. Căn cứ vào biên bản xác minh lập ngày 15/06/2019 và quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù ngày 31/5/2019 tại Trại giam Quyết Tiến- Bộ Công An xác định kể từ ngày bị cáo Hà Văn K chấp hành bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 tại Trại giam Quyết Tiến- Bộ Công An thì bị cáo xếp loại cải tạo “ Trung bình” nên không được xem xét giảm án theo quy định. Do đó khi tổng hợp hình phạt thời gian chấp hành hình phạt chung của bản án được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án từ 06 - 09 tháng tù, xét thấy là không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên không được chấp nhận.

Mức án Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà xét thấy là phù hợp, được chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp, là người khuyết tật và hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại cho người bị hại, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Vật chứng vụ án là chiếc xe mô tô HONDA WAVE, BKS 33L9- 8733 do bị cáo K chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo không phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định. Người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn K phạm tội: Trộm cắp tài sản.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h,q, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt: Bị cáo Hà Văn K 12 ( Mười hai ) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015. Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 ( hai mươi mốt) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án số 133/2018/HSST, ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe màu ghi – xanh, biển kiểm soát 33L9-8733 cho anh Trần Văn T người bị hại trong vụ án quản lý. Người bị hại anh Trần Văn T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Đ không yêu cầu đề nghị gì thêm nên không xem xét giải quyết.

4. Vật chứng vụ án: Đã xử lý xong.

5. Án phí: Căn cứ điều135, 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án . Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn K.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự . Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại anh Trần Văn T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Đ vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./. * Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án tỉnh Thái Nguyên;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKS tỉnh TN;

- Sở Tư Pháp tỉnh TN;

- VKS thị xã Phổ Yên;

- THADS thị xã Phổ Yên;

- Công an thị xã Phổ Yên;

- Bị cáo ; người đại diện hợp pháp cho bị cáo; người bào chữa cho BC;

Nguyễn Hải Chiều người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;

- Lưu, lưu HS

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Hải Nguyễn Thị Thanh

Nguyễn Hải Chiều

Cỡ chữ