vanban.org

Bản án 103/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Hồ T được ly hôn chị Võ Thị L.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Hồ P, sinh ngày 11/7/2003 cho anh Nguyễn Hồ T trực tiếp chăm sóc,nuôi dưỡng.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Võ Thị L. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa anh T và chị L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Hồ T được ly hôn chị Võ Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 24/5/2019.
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông: Phan Đình Trung 2.Ông: Nguyễn Phƣơng Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà- Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2019/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2019/QĐST- HNGĐ ngày 10/5/2019 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hồ T, sinh năm: 1977; địa chỉ: Xóm X, xã Y, huyện NĐ, tỉnh NA. Có mặt. Bị đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm M, xã TN, huyện TC, tỉnh NA. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2019, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Hồ T trình bày như sau: Anh và chị Võ Thị L kết hôn với nhau vào ngày 07/5/2002 do hai bên tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TN, huyện TC, tỉnh NA. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến tháng 5/2005 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp nhau.Mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào tháng 5 năm 2005 nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Tình cảm vợ chồng là không còn nữa anh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Võ Thị L.

Về nuôi con chung: Vợ chồng anh có một con chung là Nguyễn Hồ P, sinh ngày 11/7/2003.Vợ chồng ly hôn anh Nguyễn Hồ T có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Võ Thị Lương cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Anh Nguyễn Hồ T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Võ Thị L sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hîp lÖ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập;Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Võ Thị L nhưng chị kh«ng ®Õn Tßa ¸n lµm viÖc theo giấy triệu tập và Thông báo của Tòa án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong qúa trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không đến Tòa án làm việc theo Thông báo và Giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hồ T được ly hôn chị Võ Thị L.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Hồ P, sinh ngày 11/7/2003 cho anh Nguyễn Hồ T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Võ Thị L.

Về chia tài sản và nợ:Anh Nguyễn Hồ T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Hồ T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Đây là vụ án thuộc trường hợp Tòa án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt được quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 10/5/2019 Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng do bị đơn chị Võ Thị L vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ cho chị Võ Thị L. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Võ Thị L vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Hồ T và chị Võ Thị Lương là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TN, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 07/5/2002.Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu,đến tháng 5/2005 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp,vợ chồng không thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, hai bên đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh Nguyễn Hồ T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Võ Thị L. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Hồ T và chị Võ Thị L chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hồ T, xử cho anh được ly hôn với chị Võ Thị L là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Hồ P, sinh ngày 11/7/2003 hiện đang ở với anh Nguyễn Hồ T. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Nguyễn Hồ T có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Võ Thị L cấp dưỡng nuôi con.Ý kiến của cháu Nguyễn Hồ P là muốn được ở với bố.

Xét thấy anh Nguyễn Hồ T có đủ điều kiện về mọi mặt để chăm sóc, nuôi dạy con do đó giao con cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con,phù hợp với nguyện vọng của con,đúng với quy định tại các Điều 81;82;83 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Võ Thị L.

Về chia tài sản và nợ: Anh Nguyễn Hồ T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Hồ T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Hồ T được ly hôn chị Võ Thị L.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Hồ P, sinh ngày 11/7/2003 cho anh Nguyễn Hồ T trực tiếp chăm sóc,nuôi dưỡng.Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Võ Thị L.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Anh Nguyễn Hồ T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồ ng tiề n á n phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiề n tạ m ứ ng án phí đã nộ p theo biên lai số 0001425 ngày 06/3/2019 tại Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyệ n Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ