vanban.org

Bản án 103/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Lưu Yến N;

Về hôn nhân: Cho chị Lưu Yến N được ly hôn với anh Huỳnh Quốc P; Về con chung: Giao cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/5/2017 cho chị N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn Lưu Yến Ngọc - Huỳnh Quốc Phục"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Lưu Yến N;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 08-8-2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp về con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Tiến

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long: Không tham gia phiên toà.

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2019/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2019/QĐST - HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Yến N, sinh năm 1992 – có mặt

Nơi cư trú: Số A, khu B, tổ C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Vĩnh Long

- Bị đơn: Anh Huỳnh Quốc P, sinh năm 1994 – vắng mặt

Nơi cư trú: Ấp Đ, xã E, huyện F, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 4 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị N và anh P cưới nhau vào ngày 05/7/2017dl, hôn nhân do quen biết, được cha mẹ hai bên đồng ý, có tổ chức đám cưới đàng hoàng, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện F, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian vợ chồng sống hạnh phúc của vợ chồng được khoảng 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ 30/4/2018 cho đến nay không về đoàn tụ được.

Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N là do anh P không quan tâm chăm sóc vợ con, anh P đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh cũng không có gửi tiền về để chị N lo cho con, thậm chí anh P còn thừa nhận là đã có người phụ nữ khác bên ngoài, nên từ đó chị N không còn tình cảm vợ chồng với anh P nên cương quyết ly hôn.

Về con chung: Chị N trình bày vợ chồng có 01 người con chung tên Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/5/2017, hiện đang sống với chị N.

Về tài sản chung: Chị N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị N trình bày vợ chồng không có nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị Lưu Yến N yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Quốc P; Về con chung: Chị N yêu cầu được nuôi cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 29/5/2019, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Quốc P đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như ngày mở phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do đồng thời không có văn bản ý kiến gì phản bác hay yêu cầu phản tố gì khác đối với yêu cầu của chị N.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt, nguyên đơn không có yêu cầu gì thêm và không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn anh Huỳnh Quốc P đã được Tòa án tống đạt thông báo việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về ngày xét xử vụ án cho anh P đúng theo quy định pháp luật nhưng anh P không đến và vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chị N yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Quốc P; Về con chung: Chị N yêu cầu được nuôi cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 29/5/2019, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn anh Huỳnh Quốc P vắng mặt và không có văn bản ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.

Xét về hôn nhân: Chị N và anh P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện F, tỉnh Vĩnh Long là đúng theo quy định pháp luật. Nên việc chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh P là có cơ sở xem xét.

Bởi vì: Theo chị N trình bày nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là tánh tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Hơn nữa, anh P còn thừa nhận là anh P có quen với người phụ nữ khác bên ngoài, nên từ đó chị N không còn tình cảm vợ chồng đối với anh P.

Tại phiên tòa hôm nay anh P vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án anh P đã được Tòa án thông báo việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về ngày xét xử vụ án hợp lệ đúng theo quy định của pháp luật, nhưng anh P vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp văn bản ý kiến, yêu cầu phản bác gì đối với yêu cầu của chị N thì xem như đã anh P tự mình từ bỏ quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa hôm nay chị N đã xác định tình cảm vợ chồng dành cho anh P không còn nữa. Từ đó, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lưu Yến N đối với anh Huỳnh Quốc P là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Xét về con chung: Chị Lưu Yến N yêu cầu được nuôi con chung là cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/5/2017, chị N không yêu cầu anh Phục cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa hôm nay anh P vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án anh P đã được Tòa án thông báo về yêu cầu nuôi con của chị N nhưng anh P không cung cấp văn bản ý kiến, yêu cầu phản bác gì đối với yêu cầu này của chị N thì xem như anh P đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ.

Xét thấy, từ khi chị N và anh P ly thân nhau đến nay thì cháu K do chị N chăm sóc nuôi dưỡng, anh P cũng không có tới lui thăm nom con, gửi tiền về lo cho con. Hơn nữa, căn cứ theo quy định tại khoản 3, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/5/2017 dưới 36 tháng tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị N. Giao cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/5/2017cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu anh Phục cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Anh Huỳnh Quốc P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Xét về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Xét về nợ chung: Chị N trình bày trong thời gian sống chung vợ chồng không có nợ ai và ngược lại không có ai nợ vợ chồng và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lưu Yến N phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí về việc yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0011746, ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Lưu Yến N;

- Về hôn nhân: Cho chị Lưu Yến N được ly hôn với anh Huỳnh Quốc P;

- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/5/2017 cho chị N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung, nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.

Anh Huỳnh Quốc P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Xét về tài sản chung: Chị Lưu Yến N không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.

- Về nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.

2.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lưu Yến N phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí về việc yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0011746, ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ