- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị Kiều M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 103/ 2018/ HNGĐ-ST Ngày: 21/ 8/ 2018 V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN
TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Khưu Để Dành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hoàng Cảnh.
2. Ông Phan Minh Quốc.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 160/2018/TLST-HNGĐ ngày 14/5/2018 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 176/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30/7/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Kiều M, sinh 1997 (có mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị Kiều M trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn N chung sống với nhau từ năm 2016, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc có 01 con chung tên Nguyễn Vũ Bảo A, sinh ngày 24/8/2017. Đến cuối năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống; nguyên nhân do anh N không lo làm ăn, tính tình không phù hợp, thường xuyên cải nhau, vì thương con chị đã cố gắng chịu đựng nhưng không được nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm được nữa, chị xin được ly hôn.
Về quan hệ con chung chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung không có, chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn N: Kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh N đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt anh N.
Sau khi quen biết, tìm hiểu và có tình cảm với nhau, năm 2016 chị Vũ Thị Kiều M với anh Nguyễn Văn N tự nguyện chung sống với nhau được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 81 ngày 26/8/2016. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của chị Vũ Thị Kiều M, thấy: Vợ chồng chị M và anh N chung sống với nhau, có thời gian hạnh phúc và đã có con chung; tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay; kể từ khi sống ly thân đến nay chị M với anh N không gặp nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau. Ngoài lời trình bày của chị M, điều này còn được thể hiện, kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh N đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị M để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con chung.
Căn cứ Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa chị Vũ Thị Kiều M với anh Nguyễn Văn N không còn, tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Kiều M.
Xét về quan hệ con chung, thấy: Cháu Nguyễn Vũ Bảo A, sinh ngày 24/8/2017 hiện đang được chị Vũ Thị Kiều M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Hội đồng xét xử xét thấy, để ổn định cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu Bảo A nên áp dụng Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Nguyễn Vũ Bảo A cho chị M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chị Vũ Thị Kiều M là nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị Kiều M.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị Kiều M ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
Về quan hệ con chung:
- Giao con chung tên Nguyễn Vũ Bảo A, sinh ngày 24/8/2017 (hiện đang sống với chị Vũ Thị Kiều M) cho chị Vũ Thị Kiều M trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Anh Nguyễn Văn N có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Bảo A được sống chung với chị M và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị M không được cản trở.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Vũ Thị Kiều M chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001144 ngày 14/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Chị Vũ Thị Kiều M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án; anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND xã, phường, trị trấn nơi đương sự cư trú; - Các đương sự (Để thi hành). - Lưu: Hồ sơ, Văn Phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |