- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "ông Lâm Văn Tr với ông Đặng Văn H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 26, 35, 39, 91, 95, 147 và Điều 259 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 103/2018/DS-PT Ngày 30-8-2018 “V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNTỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Trịnh Thị Bích Hạnh
Các Thẩm phán:
Ông: Nguyễn Hồ Tâm Tú
Ông: Nguyễn Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Chúc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Ông Nguyễn Văn Hòa - Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên toà.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2018/TLPT-DS ngày 13 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 114/2018/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 244/2018/QĐPT-DS ngày 09 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lâm Văn Tr (có mặt).
Địa chỉ: Số 36, ấp 2, xã T, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn H (có mặt).
Địa chỉ: Khu vực 1, phường 7, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
3. Người kháng cáo ông Lâm Văn Tr là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn ông Lâm Văn Tr trình bày: Vào ngày 18/9/2016 ông có thuê ông Đặng Văn H làm tài xế chở hàng từ Kênh 7 (Kiên Giang) lên Bình Dương, tuy nhiên trên đường đi ông H lái xe gây tai nạn giao thông, sau khi giải quyết xong vụ tai nạn giao thông ông H không trả lại giấy tờ xe cho ông nên ông phải thuê xe khác chở hàng lên Bình Dương với số tiền là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Thời gian ông H giữ giấy tờ của ông là từ ngày 18/10/2016 đến ngày 20/12/2016 là 63 ngày. Do ông H không giao lại giấy tờ xe cho ông nên ông đã thuê xe cẩu để cẩu xe tải của ông đi đăng kiểm tại Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Nay ông yêu cầu ông H phải trả lại cho ông tổng số tiền là 9.000.000đ (Chín triệu đồng)
Bị đơn ông Đặng Văn H trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Tr, vụ việc bồi thường thiệt hại giữa ông và ông Tr đã được Tòa án nhân dân thành phố V giải quyết bằng vụ kiện khác, còn việc bồi thường như ông Tr yêu cầu ông hoàn toàn không biết nên không đồng ý bồi thường.
Tại bản án sơ thẩm số 114/2018/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Văn Tr. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 17 tháng 5 năm 2018, nguyên đơn ông Lâm Văn Tr có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 114/2018/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang yêu cầu: Xem xét lại bản án và sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Văn Tr, buộc ông Đặng Văn H trả cho ông Tr số tiền tổng cộng là 9.000.000đ (Chín triệu đồng).
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo: Buộc ông Đặng Văn H trả cho ông số tiền tổng cộng là 9.000.000đ (Chín triệu đồng).
Bị đơn ông Đặng Văn H vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý bồi thường cho ông Tr theo yêu cầu của ông Tr. Vụ việc bồi thường thiệt hại của ông và ông Tr đã được Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh giải quyết bằng vụ kiện khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm từ giai đoạn thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem là hợp lệ.
Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về yêu cầu ông Đặng Văn H bồi thường số tiền thuê xe chở hàng từ cầu Cái Tư đến Bình Dương số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng): Ông Lâm Văn Tr cung cấp chứng cứ chứng minh việc có thuê xe chở hàng với giá 4.000.000đ (Bốn Triệu đồng) là hai đơn xác nhận của cùng một người là Huỳnh Tấn T nhưng chữ ký ở hai văn bản lại hoàn toàn khác nhau và ngày, tháng của hai văn bản đều có dấu hiệu bị sửa chữa nên chứng cứ không khách quan và không có giá trị chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông Tr. Tại cấp phúc thẩm ông Tr không cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của ông. (BL 03; 32)
- Về yêu cầu ông H bồi thường chi phí thuê xe cẩu để cẩu xe tải của ông Tr đi đăng kiểm tại Thành phố Hồ Chí Minh số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) với lý do xe ông không thể đăng kiểm được vì ông H giữ giấy tờ xe của ông từ ngày xảy ra tai nạn đến ngày 17/01/2017 thì ông H mới giao lại trong thời gian đó xe ông hết hạn đăng kiểm không thể lưu thông được nên ông phải thuê cẩu xe để đi đăng kiểm: Ông Tr cung cấp chứng cứ gồm bản gốc hóa đơn bán hàng ngày 18/02/2017 của HTX dịch vụ vận tải Hồng H nội dung thuê xe cẩu từ V đến thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Bản gốc hóa đơn GTGT ngày 14/02/2017 của Trung tâm kiểm định xe cơ giới số 50-05V với số tiền kiểm định là 290.909đ. Việc cẩu xe lại sau thời gian đăng kiểm 04 ngày là không phù hợp.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn ông Lâm Văn Tr kháng cáo yêu cầu được ông H bồi thường tiền thuê xe chở hàng lên Bình Dương với số tiền 4.000.000đồng và tiền thuê xe cẩu để cẩu xe đi đăng kiểm ở Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 5.000.000đồng. Tổng số tiền yêu cầu ông H bồi thường là 9.000.000đồng (Chín triệu đồng) là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại tòa, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Lâm Văn Tr nên ông Tr phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng: Điều 26, 35, 39, 91, 95, 147 và Điều 259 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn Tr.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 114/2018/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Văn Tr.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lâm Văn Tr phải nộp là 450.000đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Ông Lâm Văn Tr được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012722 ngày 18 tháng 01 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Ông Tr phải nộp thêm 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Văn Tr phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền 300.000đồng ông Tr đã nộp theo biên lai thu số 0016061 ngày 17/5/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 30/8/2018.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Hậu Giang;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Thành phố Vị Thanh;
- Chi cục THADS thành phố Vị Thanh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trịnh Thị Bích Hạnh
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Thị Bích Hạnh
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - TAND H.Châu Thành A; - Chi cục THADS H. Châu Thành A; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Bích Hạnh |