- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Tổ ch c đánh bạc
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2017/HSST Ngày: 21/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lê Bảo Huyền Trân.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Nhớ
Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ng c uyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2017/TLST - HS ngày 18/08/2017 đối với bị cáo:
NGUYỄN THỊ H - sinh ngày 29/12/1963 tại thành phố Đà Nẵng;
Nơi đăng ký HKTT: Tổ 98, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng;
Chỗ ở: K68/18 đường L, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng;
Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Buôn bán;
Con ông Nguyễn Tăng P (còn sống) và bà Hoàng Thị M (đã ch t). ia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con th tư.
Có chồng là Nguyễn Đ (sinh năm 1960); có 03 con, lớn nh t sinh năm 1989, nh nh t sinh năm 2006.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/5/2017, hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
* Tiền án, tiền sự: Không.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Huỳnh Thị V - sinh năm: 1956; Trú tại: Số 131 đường L, tổ 61, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
2. Bà Phạm Thị Kim N - sinh năm: 1969; Trú tại: Số 77/6 đường P, tổ 99, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
3. Chị Nguyễn Thị M - sinh năm: 1989; Trú tại: K68/18 đường L, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Nguyễn Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 18/5/2017, tại địa ch K68/18 đường L, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Công an phường V bắt quả tang Nguyễn Thị H đang tổ ch c đánh bạc b ng hình th c bán số đề cho bà Huỳnh Thị V và bà Phạm Thị Kim N.
* Vật ch ng thu gi khi bắt quả tang gồm:
- 32 tờ gi y có ghi ch và số (trong đó có 27 tờ là tịch đề c a H bán số đề cho người mua t ngày 14/5/2017 đ n ngày 18/5/2017; 03 tờ là tịch đề tr ng lặp nội dung trong 27 tịch đề; 02 tờ gi y nháp ghi các con số, không phải là tịch đề).
- 01 máy t nh Casino - 300P, 01 cây vi t bi, 01 tờ gi y than c a H sử dụng vào việc bán số đề.
- 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) là số tiền Nguyễn Thị H có được t việc bán số đề trong ngày 18/5/2017.
- 20.000đ (hai mươi ngàn đồng) là tiền Huỳnh Thị V sử dụng để mua số đề; 30.000đ (ba mươi ngàn đồng) là tiền Phạm Thị Kim N sử dụng để mua số đề.
Ngoài ra qua kiểm tra hành ch nh, Công an phường V còn thu gi c a Nguyễn Thị H 01 (một) v vải màu xanh bên trong có số tiền là 39.650.000đ (ba mươi ch n triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng). Số tiền này là c a Nguyễn Thị M (con gái c a H) nhờ H c t gi , không liên quan đ n việc H tổ ch c đánh bạc b ng hình th c bán số đề.
T y vào cách th c đánh đề và căn c k t quả xổ số ki n thi t các đài miền Trung và đài miền Bắc hàng ngày để xác định thắng thua, hình th c đánh đề và thắng tiền đề như sau:
* Đối với các đài miền trung:
- Đắng độc đắc (đánh 03 số cuối c a giải đặc biệt): T lệ 01 ăn 500 l n.
- Đánh đ u - đuôi (đánh 02 số cuối c a giải đặc biệt và 02 số c a giải tám): T lệ 1 ăn 70.
- Đánh bao 06 lô (đánh ba số cuối c a giải đặc biệt, giải năm, giải sáu và giải bảy): T lệ 1 ăn 500 l n.
- Đánh bao 17 lô (đánh ba con số cuối c a các giải): T lệ 1 ăn 600 l n.
- Đánh bao 18 lô (đánh hai con số cuối c a các giải): T lệ 1 ăn 70 l n.
các hình th c đánh bao lô, số tiền người đánh đề được t nh b ng cách chia cho số lô (6 hoặc 17 hoặc 18), n u trúng bao nhiêu lô thì nhân theo t lệ lô trúng. N u đánh đảo thì số tiền đánh đề được t nh b ng cách chia cho số lượt đảo.
T t cả các hình th c trên n u đánh 2 hoặc 3 đài thì số tiền người đánh đề được chia cho 2 hoặc ba tương ng với số đài mà h chơi.
* Đối với các đài miền bắc:
- Đánh độc đắc (đánh 03 số cuối c a giải đặc biệt): T lệ 01 ăn 500 l n.
- Đánh đ u - đuôi (đánh 02 số cuối c a giải đặc biệt và 02 số c a 04 giải bảy): T lệ 1 ăn 70.
- Đánh bao 23 lô (đánh ba số cuối các giải): T lệ 1 ăn 600 l n.
- Đánh bao 27 lô (đánh hai con số cuối c a các giải): T lệ 1 ăn 70 l n.
các hình th c đánh bao lô, số tiền người đánh đề được t nh b ng cách chia cho số lô (23 hoặc 27), n u trúng bao nhiêu lô thì nhân theo t lệ lô trúng. N u đánh đảo thì số tiền đánh đề được t nh b ng cách chia cho số lượt đảo.
Đối với đài miền bắc còn có các hình th c đánh xuyên (còn g i là đánh xiên), t c là đánh các cặp 2 số cuối c a các giải gồm: xuyên 2, t lệ 1 ăn 10 l n; xuyên 3, t lệ 1 ăn 40 l n; xuyên 4, t lệ 1 ăn 100 l n.
ua điều tra xác định: Nguyễn Thị H là người trực ti p bán số đề, thu tiền mua đề và chung tiền đề cho nh ng người trúng đề t đ u tháng 5 năm 2016 đ n ngày 18/5/2017 tại K68/18 đường L, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ti n hành kiểm kê, làm r nội dung trong 27 tờ tịch đề c a H bán số đề cho người mua đề t ngày 14/5/2017 đ n ngày 18/5/2017 cụ thể như sau:
Ngày 14/5/2017, H bán số đề ghi k t quả vào 06 tờ tịch với 46 lượt người mua đề, thu được số tiền là 9.192.000đ (ch n triệu một trăm ch n mươi hai nghìn) số tiền ghi trên tịch là 11.952.100đ (mười một triệu ch n trăm năm mươi hai nghìn một trăm đồng), tiền khách trúng đề là 6.882.081đ (sáu triệu tám trăm tám mươi hai nghìn không trăm tám mươi mốt đồng).
Ngày 15/5/2017, H bán số đề ghi k t quả vào 07 tờ tịch với 56 lượt người mua đề, thu được số tiền là 11.266.500đ (mười một triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm đồng), số tiền ghi trên tịch là 14.648.600đ (mười bốn triệu sáu trăm bốn mươi tám nghìn sáu trăm đồng), tiền khách trúng đề là 6.971.941đ (sáu triệu ch n trăm bảy mươi mốt nghìn ch n trăm bốn mươi mốt đồng).
Ngày 16/5/2017, H bán số đề ghi k t quả vào 06 tờ tịch với 45 lượt người mua đề, thu được số tiền là 9.406.500đ (ch n triệu bốn trăm không sáu nghìn năm trăm đồng), số tiền ghi trên tịch là 12.224.900đ, tiền khách trúng đề là 5.230.195đ (năm triệu hai trăm ba mươi ngàn một trăm ch n mươi lăm đồng).
Ngày 17/5/2017, H bán số đề ghi k t quả vào 05 tờ tịch với 31 lượt người mua đề, thu được số tiền là 7.342.500đ (bảy triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng), số tiền ghi trên tịch là 9.538.800đ (ch n triệu năm trăm ba mươi tám nghìn tám trăm đồng, tiền khách trúng đề là 2.477.222đ (hai triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm hai mươi hai đồng).
Ngày 18/5/2017, H bán số đề ghi k t quả vào 03 tờ tịch với 27 lượt người mua đề, thu được số tiền là 4.503.000đ (bốn triệu năm trăm l ba ngàn đồng), số tiền ghi trên tịch đề là 5.850.100đ (năm triệu tám trăm năm mươi nghìn một trăm đồng); khi H đang bán số đề cho chị V, chị N thì bị Công an phường bắt quả tang. Ngày 18/5/2017 chưa có k t quả xổ số nên không t nh được thu lợi b t ch nh c a H. Lúc bắt quả tang thu gi được 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) t hơn số tiền thực nhận 4.503.000đ là do khách mua đề thi u nợ.
Tổng số tiền thực t mà H thu được t việc bán số đề t ngày 14/5/2017 đ n 18/5/2017 là 41.710.500đ (bốn mươi mốt triệu bảy trăm mười ngàn năm trăm đồng); để thu hút người chơi H tự thưởng cho nh ng người mua đề thêm 30 trên số tiền thực t mua nên tổng số tiền ghi trên tịch là 54.214.500đ (năm mươi tư triệu hai trăm mười bốn ngàn năm trăm đồng), tổng số tiền khách đã trúng đề là 21.561.439đ (hai mươi mốt triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn bốn trăm ba mươi ch n đồng), tổng số lượt người t nh đ n khi bị bắt quả tang là 207 lượt người mua đề, Ngày 18/5/2017 chưa có k t quả xổ số nên không t nh được thu lợi b t ch nh c a H. T ngày 14/5/2017 đ n 17/5/2017, số tiền H thu lợi b t ch nh t việc bán số đề là 41.710.500đ - 4.503.000đ - 21.561.439đ 15.646.061đ (mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm sáu mươi mốt đồng). Số tiền thu lợi được H khai đã tiêu xài h t.
Như vậy tổng số tiền tổ ch c đánh bạc c a H là 54.214.500đ 21.561.439đ 75.775.939đ (bảy mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn ch n trăm ba mươi ch n đồng). Tổng số tiền thu lợi b t ch nh c a H là 15.646.061đ (mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm sáu mươi mốt đồng).
* Vật ch ng tạm gi :
- 01 máy t nh Casio - 300P, 01 cây vi t bi, 01 tờ gi y than; 01 v vải xanh; số tiền 44.050.000đ - thu gi c a Nguyễn Thị H
- 20.000đ thu gi c a Huỳnh Thị V;
- 30.000đ thu gi c a Phạm Thị Kim N;
* Tại bản Cáo trạng số 106/CT - VKS ngày 18/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Thị H về tội Tổ ch c đánh bạc theo điểm b khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước gi nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn c vào t nh ch t vụ án, nhân thân, m c độ do hành vi phạm tội c a bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX áp dụng: Đối với bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Tổ ch c đánh bạc thì theo điểm b khoản 2 Điều 322 BLHS 2015 thì thu lợi b t ch nh lớn 50.000.000đ trở lên mới phạm vào điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự 2015. Trong vụ án này, thu lợi b t ch nh c a bị cáo Nguyễn Thị H là: 15.646.061đ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Nghị quy t 41/2017/ H14 ngày 20/6/2017 c a uốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, công văn số 276/TANDTC - PC ngày 13/9/2016 c a Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định có lợi cho người phạm tội c a Bộ luật hình sự 2015, khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự 2015 có khung hình phạt t 1 - 5 năm b ng với khung hình phạt c a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên c n áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự để quy t định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H. Đề nghị HĐXX áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 249, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H m c án t 12 đ n 18 tháng t .
* Về xử lý vật ch ng, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quy t định tố tụng c a Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. uá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định c a Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng c a Cơ quan Cảnh sát điều tra quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận c a bị cáo ph hợp với các ch ng c , tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Khi H đang tổ ch c đánh bạc b ng hình th c bán số đề cho Huỳnh Thị V và Phạm Thị Kim N thì bị Công an phường V bắt quả tang. Hành vi c a bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm vào tội T chức đánh ạc theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của ị cáo thì thấy: Trong khoảng thời gian t ngày 14/5/2017 đ n ngày 18/5/2017, tại K68/18 đường L, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Nguyễn Thị H có hành vi tổ ch c đánh bạc b ng hình th c trực ti p bán số đề, thu tiền mua đề và chung tiền đề cho nh ng người trúng đề với 207 lượt người chơi, được ghi trên 27 tịch đề với tổng số tiền tổ ch c đánh bạc là: 75.775.939đ; tổng số tiền thu lợi b t ch nh là 15.646.061đ.
Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực ti p đ n trật tự công cộng. Đánh bạc là tệ nạn c a xã hội, t việc đánh bạc có thể dẫn đ n nhiều hành vi trái pháp luật khác, mà hành vi tổ ch c đánh bạc là tạo điều kiện cho việc đánh bạc, gây ảnh hưởng x u đ n trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê nói riêng và thành phố nói chung, bị dư luận xã hội lên án gay gắt. Do đó đối với bị cáo c n có m c hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ng a chung cho xã hội. Do đó, HĐXX c n phải xử phạt bị cáo một m c án tương x ng với hành vi phạm tội c a bị cáo.
Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của ị cáo thì thấy: Bị cáo nhận th c r việc tổ ch c đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật, bị Nhà nước ta nghiêm c m nhưng do muốn có tiền mà không phải t lao động ch nh đáng, nên bị cáo vẫn b t ch p, xem thường pháp luật. Do đó, c n phải xử phạt với m c án nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ng a chung, c n ti p tục cách ly bị cáo ra kh i xã hội một thời gian nh t định như đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát là ph hợp. Tuy nhiên xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai báo thành khẩn, bi t t ra ăn năn hối cải, bị cáo nhận th c được hành vi c a mình là vi phạm pháp luật, gia đình bị cáo là gia đình có công cách mạng, có anh trai là liệt sĩ, được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chi n và có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, HĐXX vận dụng tình ti t giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo trong khi quy t định hình phạt.
Hành vi Tổ ch c đánh bạc c a bị cáo Nguyễn Thị H có thu lợi b t ch nh tuy nhiên bản thân bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, nuôi 03 con nh và chồng bị bệnh, gia đình được ch nh quyền địa phương xác nhận gặp hoàn cảnh khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình th c phạt bổ sung là phạt tiền.
T nh ng phân t ch trên, xét lời luận tội c a Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị m c hình phạt là có căn c nên HĐXX ch p nhận.
Trong vụ án này, bà Huỳnh Thị V và bà Phạm Thị Kim N có hành vi mua số đề t bị cáo H, số tiền d ng để đánh bạc chưa đ n m c truy c u trách nhiệm hình sự, Công an quận Thanh Khê, thành phố đã ra quy t định xử phạt vi phạm hành chính là có căn c nên HĐXX không đề cập đ n.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Thị H tự nguyện nộp thu lợi b t ch nh: 7.000.000đ nên c n truy thu số tiền thu lợi b t ch nh còn lại c a Nguyễn Thị H là: 8.646.061đ;
- Đối với 01 máy t nh Casio - 300P được Nguyễn Thị H sử dụng vào việc ghi số đề; 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) là số tiền Nguyễn Thị H có được t việc bán số đề trong ngày 18/5/2017; 20.000đ là tiền Huỳnh Thị V sử dụng để mua số đề; 30.000đ là tiền Phạm Thị Kim N sử dụng để mua số đề nên c n tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- Đối với 01 cây vi t bi; 01 tờ gi y than H sử dụng vào việc bán số đề xét th y không có giá trị sử dụng nên c n tịch thu tiêu h y.
- Đối với 01 v vải màu xanh c a bị cáo H, không liên quan đ n vụ án nên c n trả lại cho bị cáo H.
- Đối với số tiền 39.650.000đ là số tiền Nguyễn Thị M nhờ bị cáo H c t gi , không liên quan đ n việc H tổ ch c đánh bạc b ng hình th c đánh số đề nên c n trả số tiền trên cho Nguyễn Thị M (theo biên lai 006952 ngày 22/8/2017 c a Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng).
Các vật ch ng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang tạm gi theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 22 tháng 8 năm 2017).
Đối với bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Tổ ch c đánh bạc , Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Nghị quy t 41/2017/ H14 ngày 20/6/2017 c a uốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Công văn số 276/TANDTC - PC ngày 13/9/2016 c a Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định có lợi cho người phạm tội c a Bộ luật hình sự 2015, khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự 2015 có khung hình phạt t 1 - 5 năm b ng với khung hình phạt c a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên c n áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự để quy t định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H.
Án ph HSST: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Tổ ch c đánh bạc
1. Áp dụng: Điểm b, khoản 2 Điều 249; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quy t 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 c a uốc hội và Công văn số 276/TANDTC - PC ngày 13/9/2016 c a Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Nguyễn Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn t t nh t ngày 18/5/2017.
2. Về xử lý vật ch ng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên:
- Truy thu số tiền thu lợi b t ch nh c a Nguyễn Thị H là: 8.646.061đ;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 máy t nh Casio - 300P; 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) là số tiền Nguyễn Thị H có được t việc bán số đề trong ngày 18/5/2017; 20.000đ là tiền Huỳnh Thị V sử dụng để mua số đề; 30.000đ là tiền Phạm Thị Kim N sử dụng để mua số đề. (theo biên lai 006952 ngày 22/8/2017 c a Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng).
- Tịch thu tiêu h y 01 cây vi t bi; 01 tờ gi y than H sử dụng vào việc bán số đề.
- Trả lại cho bị cáo H 01 v vải màu xanh.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị M 39.650.000đ (theo biên lai 006952 ngày 22/8/2017 c a Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng).
Các vật ch ng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang tạm gi theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 22 tháng 8 năm 2017.
3. Án phí HSST: 200.000 đồng bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được tr ch sao (hoặc niêm y t) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND quận Thanh Khê; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê; - Công an quận Thanh Khê; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Bảo Huyền Trân |