- Tranh chấp gì? án hành chính — "LÂM TIÊN QUỲNH"
- Tòa quyết gì? Huỷ bản án hành chính sơ thẩm số: 36/2022/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, đình chỉ giải quyết vụ án.
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ______________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1028/2023/HC-PT Ngày: 30-11-2023 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Hồ Thị Thanh Thuý
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẩn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 937/2022/TLPT-HC ngày 27 tháng 12 năm 2022 “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2022/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2869/2023/QĐPT-HC ngày 10 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lâm Tiên Q, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số I Đường C phường H, quận N, thành phố Cần Thơ
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Lâm T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số G ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phan Thị N - Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B; Địa chỉ: Khu dân cư N, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:
1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: B, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Ông Trương Tấn T2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số F, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần Đ
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc D (văn bản ủy quyền ngày 10/5/2022); Địa chỉ: Khu Đô thị -, đường N, phường L, quận B (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 14/6/2022).
- Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Lâm Tiên Q
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Ngày 28/01/2021 bà Lâm Tiên Q nhận được Thông báo thu hồi đất số 2743/TB-UBND do UBND quận B ban hành ngày 31/12/2020, về việc thông báo thu hồi đất của bà Lâm Tiên Q để xây dựng Khu đô thị T, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ (Dự án C).
Phần đất dự kiến thu hồi có diện tích 501,6 m2 loại đất CLN+ODT tại thửa số 326, 327, tờ bản đồ số 17 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 0658-LH do UBND quận B cấp ngày 03/03/2009, tọa lạc tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ (đỉnh kèm); có vị trí tiếp giáp Đại lộ Nguyễn Văn L là khu cất mặt tiền có giá trị mại rất cao.
Thông báo 2743 do cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất ban hành là thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, tại Điều 69 về trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thông báo 2743 do Ủy ban Nhân dân quận B ban hành ngày 31/12/2020 đã làm thay đổi, hạn chế quyền sử dụng đất là lợi ích hợp pháp của bà Q và gia đình.
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 3 và Điều 5 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Nay bà Q làm đơn này để khởi kiện Thông báo 2743 ra Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, do Thông báo 2743 ban hành không đúng pháp luật xây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của bà Q.
Cụ thể như sau:
1. Dự án C thuộc phạm vi điều chỉnh và áp dụng của Luật Đầu thầu năm 2013. Các văn bản hành chính liên quan đến Dự án Cửu Long gồm có:
Ngày 26/12/2008, Chủ tịch U đã ban hành công văn số 6060 /UBND-KT (đính kèm), V/v chủ trương đầu tư dự án khu nhà ở tái định cư và dân cư tại phường L, quận B (tiền thân của Dự án C); trong đó có nếu cụ thể Dự án Cửu Long gồm 2 phần riêng biệt là Khu tái định cư và phần đất còn lại nhà đầu tư kinh doanh theo quy định.
Ngày 22/6/2009, U ban hành Quyết định số 1850/QĐ- UBND (QĐ 1850, đỉnh kèm) về việc quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu đô thị T, L, quận B, thành phố Cần Thơ, trong đó: tại khoản 4, Điều 1 của Quyết định số 1850 về nội dung quy hoạch có quy định: “Trên phương án đã được phê duyệt, đề xuất điều chỉnh phương án quy hoạch với 2 khu chức năng ở riêng biệt, gồm:
Khu chung cư thấp tầng và cao tầng. Bố trí dọc theo Quốc lộ I; phần này nhà đầu tư sẽ đầu tư xây dựng và kinh doanh.
Phần diện tích còn lại bố trí nhà ở liên kế tái định cư với kích thước lỗ nền có chiều ngang là 4,5m, dài 20m; phần quy hoạch này sau khi đầu tư xong cơ sở hạ tầng nhà đầu tư phải giao lại cho thành phố để bố trí tái định cư" Khu chung cư cao tầng bố trí dọc theo Quốc lộ I trên sơ đồ bố trí kèm theo do chủ đầu tư cung cấp (đính kèm) là “khu hỗn hợp thương mại, dịch vụ căn hộ 12 tầng toàn bộ phần đất dự kiến thu hồi theo Thông báo số 2743 là để xây dựng khu hỗn hợp thương mại dịch vụ căn hộ 12 tầng này.
Ngày 14/02/2014, U ban hành Quyết định số 396/QĐ- UBND, về việc phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu đô thị T, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ; trong đó: vị trí khu đất." Điều 1, khoản 6. “Định hưởng, phân khu chức năng quy hoạch:
Khu chung cư cao tầng và khu dân cư tự cải tạo: giữ nguyên quy mô, chức răng và vị trí khu đất".
Ngày 28/04/2014, U ban hành Quyết định số 1171/QĐ- UBND, về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu đô thị T, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ; trong đó, khu hỗn hợp thương mại, dịch vụ căn hộ 12 tầng vẫn giữ nguyên vị trí khu đất và tăng thêm gần 1.500 m so với Quyết định số 1850. Ngày 31/08/2018, U ban hành Quyết định số 2268/QĐ-UBND, về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chỉ tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu đô thị T, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ; trong đó, khu hỗn hợp thương mại, dịch vụ, căn hộ 12 tầng vẫn giữ nguyên vị trí khu đất và diện tích như Quyết định số 1171.
Như vậy, Dự án Cửu Long là Dự án đầu tư có sử dụng đất để xây dựng nhà ở thương mại; công trình thương mại, dịch vụ cho mục đích kinh doanh; do vậy Dự án này thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định số: 25/2020/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 28/02/ 2020, V/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư là chiếu theo điểm b, khoản 1 và diễn a, khoản 2 Điều 1, và Điều 11 của Nghị định số 25/2020/NĐ-CP.
2. Việc ban hành Thông báo 2743 là vi phạm Điều 34 Luật Đầu tư năm 2005, Điều 58 Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đấu thầu năm 2013, cụ thể là Điều 46, khoản 3 Điều 59 và khoản 1 Điều 60 Nghị định 25/2020/NĐ-CP như sau: Điều 46. Quy trình chi tiết: Tại Điều này có quy định chi tiết 6 bước để tiến hành lựa chọn Nhà đầu tư thực hiện cự án đầu tư có sử dụng đất, tất cả của bước đều phải thông tin công khai và đăng tải trên trang mạng Đấu thầu quốc gia; cụ thể theo quy định tại khoản 3, Điều 59. Ký kết hợp đồng và công khai thông tin hợp đồng dự án, có nêu: “Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ký kết hợp đồng dự án, bên mời thầu có trách nhiệm công khai thông tin hợp đồng dự án trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia." Và Điều 60. Triển khai thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất, có nêu: “Khoản 1. Sau khi ký kết hợp đồng, bên mời thầu, nhà đầu tư phối hợp với cơ quan chuyên ngành trình cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương in bởi thưởng, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai."
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại bà Q cũng chưa tìm thấy thông tin trên trang mạng Đấu thầu quốc gia có liên quan đến hợp đồng được ký kết của D1 ăn Cửu Long và bên mời thầu; tức là Dự án Cửu Long chưa tham gia quy trình đấu thầu rộng rãi lựa chọn Nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất.
Do vậy, việc Ủy ban Nhân dân quận B ban hành Thông báo 2743 về việc thông báo thu hồi đất của bà Q để xây dựng Khu đô thị T, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ là vi phạm NĐ 25/2020/NĐ-CP về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư.
Bởi các lẽ trên, bà Q làm đơn khởi kiện này yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tuyên hủy Thông báo thu hồi đất số 2743/ B-UBND ngày 31/12/2020 của UBND quận B về việc thông báo thu hồi đất của bà Lâm Tiên Q.
- Theo văn bản trình bày ý kiến của người bị kiện thể hiện:
Để thực hiện dự án xây dựng Khu đô thị T phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Ủy ban nhân dân quận B đã ban hành các thông báo thu hồi đất đối với các hộ gia ảnh hưởng dự tin trong đó có bà Lâm Tiên Q.
Về trình tự thủ tục thu hồi đất: Việc ban hành Thông báo số 2743/TB- UBND ngày 31/12/2020 là đúng trình tự thủ tục theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013, Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014. Do đó, việc người khởi kiện bí Lâm Tiên Quỳnh khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo thu hồi đất là không có cơ sở.
Về việc người khỏi kiện cho rằng Thông báo số 2743 đã vi phạm Luật đấu thầu và Nghị định số 25/2020/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân quận B không có ý kiến do không thuộc thẩm quyền.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần B trình bày:
Việc bà Lâm Tiên Q yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ hủy các thông báo thu hồi đất liên quan đến các hộ gia đình, cá nhân trên là không có cơ sở bởi:
Công ty cổ phần Đ được Ủy ban nhân dân thành phố C chấp thuận chủ trương đầu tư dự án khu nhà ở tái định cư và dân cư tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ theo Công văn số 6660/UBND KT ngày 26/12/2008.
Ngày 23/3/2009, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Công văn số 1233/UBND-KT về việc đổi tên chủ đầu tư dự án khu nhà ở tái định cư và dân cư tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 22/6/2009, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1846/QĐ-UBND về việc quy hoạch đất đầu tư xây dựng khu đô thị T tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 22/6/2009, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1850/QĐ-UBND về việc phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết từ xây dựng 1/500 khu đô thị T tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 27/5/2010, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Công văn số 2499/UBND-KT về việc mở rộng diện tích dự án khu nhà ở tái định cư và dân cư tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 20/8/2010, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Thông báo số 75/TB-UBND về việc thu hồi đất theo quy hoạch xây dựng khu đô thị T tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 07/01/2014, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 61/QĐ-UBND về việc quy hoạch đất mở rộng dự án khu đô thị T tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 25/02/2014, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Thông Báo số 12/TB-UBND về việc thu hồi đất để mở rộng diện tích đầu tư dự án khu đô thị T tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 28/4/2014, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1171/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500 khu đô thị T tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 04/01/2017, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 22/QĐ-UBND về việc điều chỉnh tên chủ đầu tư dự án khu đô thị T tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Ngày 31/8/2018, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 2268/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết 1/500 khu đô thị T tại phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Từ những căn cứ trên, Công ty Cổ phần Đ là chủ đầu tư dự án Khu đô thị T thực hiện dự án tái định cư cho Ủy ban nhân dân thành phố C theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
Tại Bản án số 36/2022/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Điều 61, Điều 62, Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ khoản 3 Điều 99 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; khoản 60 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ;
Căn cứ Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T3;
Căn cứ iểm đ, khoản 1 điều 12; Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Tiên Q về việc yêu cầu hủy Thông báo thu hồi đất số 2743/TB-UBND ngày 31/12/2020 của Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ.
Kiến nghị với Ủy ban nhân dân quận B khi lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư cân nhắc đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của người có đất bị thu hồi, Nhà nước và doanh nghiệp.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 07/10/2022, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, bà Lâm Tiên Q là ông Lâm T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. - Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính; các đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về kháng cáo của các đương sự: Án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Tiên Q về việc yêu cầu hủy Thông báo thu hồi đất số 2743/TB-UBND ngày 31/12/2020 của Ủy ban nhân dân quận B là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Tiên Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Lâm Tiên Q làm trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm, nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Về thủ tục tố tụng: Ủy ban nhân dân quận B tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện. Tuy nhiên, người bị kiện có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện, theo quy định tại khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính.
Xét kháng cáo của người khởi kiện, ý kiến của các luật sư, Hội đồng xét xử nhận:
Ngày 31/12/2020, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Thông báo thu hồi đất số 2743/TB-UBND để thực hiện dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khu đô thị T, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ, đối với phần đất bà Lâm Tiên Q.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013 thì: “ Trước khi có quyết định thu hồi đất, châm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồn kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.” Như vậy, thông báo thu hồi đất là một trong những trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật để thực hiện thu hồi đất.
Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính thì:
“1. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân”.
Ủy ban nhân dân quận B chỉ mới thông báo thu hồi đất, chưa có quyết định thu hồi đất đối bà Lâm Tiên Q. Thông báo thu hồi đất số 2743/TB-UBND, ngày 31/12/2020 chưa làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp bà Lâm Tiên Q. Vì vậy, bà Lâm Tiên Q không có quyền khởi kiện đối với thông báo này. Toà án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là không đúng theo quy định pháp luật, cần huỷ án sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án.
Quan điểm của Kiểm sát viên không phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nhân định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Bà Lâm Tiên Q không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
1. Huỷ bản án hành chính sơ thẩm số: 36/2022/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, đình chỉ giải quyết vụ án.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm: Bà Lâm Tiên Q không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Q 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 77 ngày 21/12/2021 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
3. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Lâm Tiên Q không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Q số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 355 ngày 07/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM - Tòa án nhân dân tối cao; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - VKSND cấp cao tại TP . HCM; - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND thành phố Cần Thơ; - Cục THADS thành phố Cần Thơ; - Các đương sự; - Lưu. | Vương Minh Tâm |