vanban.org

Bản án 1023/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Minh H được ly hôn đối với bà Nguyễn Thị H Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng kết hôn số 106 do Ủy ban nhân dân thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2011 cấp cho ông Phạm Minh H và bà Nguyễn Thị H không còn giá trị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1023/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 9 năm 2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nịnh Thị Tuyết Mai – Hội chữ thập đỏ phường An Phú Đông

2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa – Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên - Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 12 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 509/2023/TLST-HN, Ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 606/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 753/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Minh H, sinh năm 1991

HKTT: Số A, tổ 5, khu phố Phước Mỹ, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992

HKTT: Nhà không số , tổ 3, khu phố 5, phường Thới An, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh

(Vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Minh H trình bày:

Tôi và vợ tôi đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 106 do Ủy ban nhân dân thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2011. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng tăng và không thể hàn gắn, tôi cảm thấy hai vợ chồng không thể nào hòa hợp chung sống với nhau được nữa. Chúng tôi đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay, tôi yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với bà Nguyễn Thị H

Về con chung: có 01 con chung – Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 22/7/2010. Hiện con chung đang ở với tôi từ năm 2014 cho đến nay, Tôi - Phạm Minh H yêu cầu được trực tiếp nuôi con Phạm Thị Ngọc H. Không yêu cầu bà Nguyễn Thị H cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn nhưng bà Nguyễn Thị H vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản đến Tòa án để thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Minh H

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn không có mặt theo triệu tập của Tòa án. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ kiện ly hôn, bà Nguyễn Thị H là bị đơn và đang cư ngụ tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự nhưng bà Nguyễn Thị H đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về yêu cầu của các đương sự:

Căn cứ vào các lời khai của đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu của đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:

Ông Phạm Minh H và bà Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 106 do Ủy ban nhân dân thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2011. Có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân ông Phạm Minh H và bà Nguyễn Thị H là hôn nhân hợp pháp.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Minh H và bà Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng luôn bất đồng quan điểm.

Tại xác nhận cư trú ngày 27/4/2023 của Công an phường Thới An có ghi nhận “Đương sự Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; Nơi ở hiện tại mới: Nhà không số (16/3A), tổ 3, khu phố 5, phường Thới An, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh”. Tòa án đã triệu tập bà Nguyễn Thị H nhiều lần, nhưng bà Nguyễn Thị H vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến. Bà Nguyễn Thị H đã từ bỏ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định tại Điều 91; Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những lời khai của của ông Phạm Minh H là chứng cứ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 12 tiến hành xác minh. Tại kết quả xác minh của UBND phường Thới An xác định mâu thuẫn ông Phạm Minh H và bà Nguyễn Thị H “Do đương sự không cùng sinh sống tại địa phương và không có đơn xin hòa giải tại khu phố nên khu phố không nắm rõ vấn đề mâu thuẫn của ông bà ”.

Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên trong nhiều tháng để hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả, bà Nguyễn Thị H không đề ra kế hoạch có tính khả thi để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy những chứng cứ trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Phạm Minh H và bà Nguyễn Thị H là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Do đó xét thấy yêu cầu của ông Phạm Minh H là có cơ sở, nên chấp nhận.

Về con chung: có 01 con chung – Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 22/7/2010. Hiện nay trẻ Phạm Thị Ngọc H đang ở với ông Phạm Minh H và ông Hiếu có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Nguyễn Thị H cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai của trẻ Phạm Thị Ngọc H có yêu cầu xin ở với ba, xét thấy yêu cầu trên là chính đáng và phù hợp. Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Phạm Thị Ngọc H cho ông Phạm Minh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Nguyễn Thị H theo yêu cầu của ông Phạm Minh H.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, ông Phạm Minh H phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 179; Điều 199; Điều 200; Điều 208; Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Minh H được ly hôn đối với bà Nguyễn Thị H

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng kết hôn số 106 do Ủy ban nhân dân thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2011 cấp cho ông Phạm Minh H và bà Nguyễn Thị H không còn giá trị.

2/ Về con chung: có 01 con chung – Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 22/7/2010. Giao trẻ Phạm Thị Ngọc H cho ông Phạm Minh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Nguyễn Thị H theo yêu cầu của ông Phạm Minh H

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Phạm Minh H phải chịu. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng ông Phạm Minh H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2022/0005955 ngày 17/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phạm Minh H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5/ Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ