vanban.org

Bản án 102/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 23/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án lệ số 57/2023/AL được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Bùi Quang P phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BQP - cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Án lệ số 57/2023/AL được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2026/HS-ST
Ngày 23-04-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Khôi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đông

2. Ông Nguyễn Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.

- Đại diện Vện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nghĩa - Kiểm sát Vên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tiến hành mở phiên tòa rút kinh nghiệm công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 82/2026/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026 đối với:

- Bị cáo: Bùi Quang P, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2005, tại xã Núi T, thành phố Đà N; trú tại: thôn Thọ Kh, xã Núi Th, thành phố Đà N; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Vệt Nam; con ông Bùi Minh Quân và bà Nguyễn Thị Lan. Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 35/2025/HSST ngày 16/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành tuyên phạt Bùi Quang P 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/10/2025.

Tiền sự: Ngày 27/02/2025, bị Công an thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt V phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành V “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong Vệc nộp phạt vào ngày 19/3/2025.

Nhân thân: ngày 20/9/2023, bị Công an thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt V phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành V “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tam Kỳ- Đà Nẵng (cơ sở Núi Thành), có mặt.

- Bị hại: Bà Phan Thị Phượng H, sinh năm 1956. Địa chỉ: thôn Vân Th, xã Núi Th, thành phố Đà N, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Phan Thị Ánh V, sinh năm 2005. Địa chỉ: Thôn Mỹ Đ, xã Đức Ph, thành phố Đà N, vắng mặt.

+ Bà Võ Thị T, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn Vĩnh Đ, xã Núi Th, thành phố Đà N, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 18/12/2025, bị cáo Bùi Quang P ngồi chơi tại quán internet Tech Gaming thuộc thôn Nam Sơn, xã Núi Thành, TP Đà Nẵng thì nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để có tiền chơi game. Bị cáo P mượn xe mô tô BKS 92N1-749.00 của Phan Thị Ánh V (là nhân Vên của quán internet Tech Gaming). Bị cáo P điều khiển xe đi lên khu vực đường bê tông thuộc thôn Vân Thạch, xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng tìm tiệm tạp hóa có người lớn tuổi để vào giả vờ mua bia rồi bỏ chạy để chiếm đoạt.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực xóm họ Ngô thuộc thôn Vân Thạch, xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng, P dừng xe trước tiệm tạp hóa của bà Phan Thị Phượng H. Bị cáo P dựng xe ngoài đường trước quán bà H, xe vẫn nổ máy. P đi vào trong tiệm gặp bà H hỏi mua 02 thùng bia Huda. Do 02 thùng bia nặng nên bà H nhờ P khiêng ra xe giúp. P vào khiêng 02 thùng bia đi ra xe, bà H đi theo bảo P trả tiền bia thì P liền bỏ hai thùng bia Huda lên yên xe rồi điều khiển xe bỏ chạy. P nghe bà H hô lên thì tiếp tục tăng ga chạy nhanh khỏi khu vực trên.

Khi thấy không có ai đuổi theo thì P chạy xe theo hướng về đường ĐT617 rồi chạy ra theo đường Võ Chí Công về xã Tam Anh, thành phố Đà Nẵng. Khi đến tiệm tạp hóa thuộc thôn Vĩnh Đại, xã Núi Thành do bà Võ Thị T làm chủ. P vào nói với bà T “bia con làm thôi nôi cho con của con mà còn dư nên con bán lại” thì bà T đồng ý mua với giá 500.000 đồng. Bán xong thì P điều khiển xe về lại quán internet Tech Gaming trả xe cho V và rồi tiếp tục chơi game hết số tiền trên.

* Kết quả định giá tài sản:

Tại kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 24/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã Núi Thành kết luận: 02 thùng bia Huda, màu xanh trắng, do công ty TNHH bia CARLSBERG sản xuất, mỗi thùng có 24 lon, thể tích mỗi lon 330 ml có giá 540.000 đồng.

Cáo trạng số 45/CT-VKSTK-HS ngày 27/3/2026, Vện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Bùi Quang P về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Vện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Quang P phạm tội “Cướp giật tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Bùi Quang P từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung; đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra Vên, Vện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát Vên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành V, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành V, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 11 giờ ngày 18/12/2025, tại tiệm tạp hóa của bà Phan Thị Phượng H thuộc thôn Vân Thạch, xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Bùi Quang P đã có hành V tiếp cận 02 thùng bia Huda của bà H rồi nhanh chóng tẩu thoát bằng xe mô tô BKS 92N1-749.00 nhằm chiếm đoạt 02 thùng bia Huda có giá trị 540.000 đồng.

Hành V trên của bị cáo Bùi Quang P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khẳng định Cáo trạng số 45/CT-VKSKV5 ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Vện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng truy tố đối với bị cáo là đúng pháp luật.

Hành V của bị cáo Bùi Quang P là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản để nhanh chóng tiếp cận, công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản rồi tẩu thoát. Hành V này trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành V phạm tội nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Theo Án lệ số 57/2023/AL về tội “Cướp giật tài sản” được lựa chọn từ Bản án hình sự phúc thẩm số 590/2020/HS-PT ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Cướp giật tài sản” và được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì: “Về tình tiết “dùng thủ đoạn nguy hiểm”, xét tại thời điểm bị cáo thực hiện hành V chiếm đoạt, bị hại đã tạm giao tài sản cho bị cáo quản lý, sau đó bị cáo mới tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát nên không thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” để cưới giật tài sản”. Hội đồng xét xử xét thấy tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Bùi Quang P là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngày 16/4/2025, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Núi Thành (cũ) tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Quang P đã khai báo thành khẩn về hành V phạm tội của mình; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Bị cáo Bùi Quang P được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan khác:

* Về trách nhiệm dân sự trong vụ án:

Bà Nguyễn Thị Phượng H đã nhận lại tài sản và có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Bà Võ Thị T có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác nên không xem xét giải quyết.

* Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- Đối với 02 (hai) thùng bia Huda (chưa qua sử dụng) do bà Võ Thị T tự nguyện giao nộp, đã trả lại cho bà Phan Thị Phượng H là phù hợp.

- Đối với 01 (một) xe máy BKS 92N1-749.00, loại xe Vsion, màu xanh, đã trả lại cho Phan Thị Ánh V là phù hợp;

- 01 (một) đĩa DVD chứa đoạn dữ liệu ghi lại diễn biến vụ Vệc vào ngày 18/12/2025 do bà Phan Thị Phượng H cung cấp (Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án là phù hợp).

* Vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

- Đối với Phan Thị Ánh V, khi cho bị cáo Bùi Quang P mượn xe mô tô BKS 92N1-749.00 nhưng V không biết bị cáo P mượn xe làm phương tiện phạm tội, không tham gia giúp Bùi Quang P chiếm đoạt tài sản của bà H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng không đề cập xử lý và trả lại xe mô tô BKS 92N1-749.00 cho V là phù hợp quy định pháp luật.

- Đối với bà Võ Thị T, khi mua 02 thùng bia Huda của bị cáo Bùi Quang P thì bà T không biết đó là tài sản do P phạm tội mà có nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Án lệ số 57/2023/AL được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Bùi Quang P phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Quang P 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2025.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Quang P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23-4-2026). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ