vanban.org

Bản án 102/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Xử phạt bị cáo: TRẦN LÊ H 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

Xử phạt bị cáo: NGUYỄN THÀNH KHẮC D 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng 02 (Hai) ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024. Bị cáo đã chấp hành xong. Xử phạt bị cáo: NGUYỄN ĐỨC T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng 02 (Hai) ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN LÊ H - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Xử phạt bị cáo: TRẦN LÊ H 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2026/HS-ST
Ngày : 11/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lương

2. Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Trần Th1 Bình – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 364/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2026/HSST – QĐ ngày 27 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. TRẦN LÊ H; sinh ngày 09/3/2005 tại tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường Q, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là đường Q, Phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Dân quân cơ động; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Xuân B, sinh năm 1971 và bà: Lê Thị V, sinh năm 1981; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 07/5/2024 (Có mặt).

2. NGUYỄN THÀNH KHẮC D; sinh ngày 7/9/2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường M, Phường O, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là đường M, khu phố C, phường M, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thành C, sinh năm 1971 và bà: Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1977; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 09/5/2024 (Có mặt).

3. NGUYỄN ĐỨC T; sinh ngày 21/10/2005 tại Quảng Ngãi; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường L, Phường H, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là đường L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Dân quân thường trực; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977 và bà: Nguyễn Thị Thu X, sinh năm 1975; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 09/5/2024 (Có mặt).

4. MAI XUÂN T; sinh ngày 17/10/2005 tại Th1 Hoá; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Y T, huyện Y , tỉnh Thanh Hoá (nay là Thôn B, xã Y T, tỉnh Thanh Hoá); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Mai Xuân Tr1, sinh năm 1977 và bà: Trần Hồng N1, sinh năm 1980; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 08/5/2024 (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phan Trọng N, sinh năm 1994, địa chỉ: đường P, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

2. Ông Phan Hoàng Nam K, sinh năm 2007, địa chỉ đường P, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

3. Bà Lê Thị Mỹ C, sinh năm 1985, địa chỉ: đường Q, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06 tháng 5 năm 2024, Trần Lê H và Nguyễn Thành Khắc D cùng 05 người bạn (gồm K2, H2, P, Ng, S) đến nhậu tại khu vực công viên Lê Thị Riêng. Trong lúc nhậu, H kể lại trước đây nhóm của H có mâu thuẫn, đánh nhau với nhóm của Âu Hoàng Th1 nên H rủ những người đang ngồi nhậu cùng xuống Phường 15, quận Tân Bình tìm Th2 giải quyết mâu thuẫn thì D đồng ý, K2, H2, P, Ng, S nghe thấy nhưng không đồng ý tham gia. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, H điều khiển xe máy hiệu Vario biển số: 59D2 - 846.29 đến vòng xoay Đông Hồ - Thành Mỹ rồi dừng lại ở khu vực ghế đá ven đường. Khoa điều khiển xe máy chở H2 và D chạy theo sau. D ngồi trên ghế đá chờ H đi đón Nguyễn Đức T tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi. Trên đường đi, H gọi điện thoại cho Lê Minh Th4 để nhờ Th4 lấy con dao của H đang nhờ cất giữ, H không rủ Th4 đi cùng cũng không nói cho Th4 biết lí do lấy dao. Sau khi đến đón Trọng, H rủ Tr cùng đến nhà Th4 lấy con dao để đi chém Th1 thì Tr đồng ý. Khi đến trước nhà Th4, Th4 mang con dao bằng kim loại dài 80cm ra đưa cho H, H nhét dao vào lưng quần phía trước bụng. Sau đó, H chở Tr quay lại khu vực ghế đá mà D đang ngồi đợi. Cùng lúc này, Mai Xuân Th gọi điện cho H2 hỏi đang ở đâu để qua uống cà phê thì H2 bảo Th ra vòng xoay Đông Hồ. Th điều khiển xe máy Vespa, biển số 59T1 - 964.13 đến địa điểm trên thì thấy D, H, H2, K, Tr đang ngồi nói chuyện. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, H kể lại việc trước kia từng mâu thuẫn với Âu Hoàng Th1 và rủ Th cùng đi đánh Th1 thì Th đồng ý, H và K không đồng ý và bỏ về. Khoảng 05 phút sau, Lê Minh Th4 điều khiển xe máy hiệu Sirius, biển số 59P3 – 227.10 chạy đến địa điểm trên đổi xe máy với Mai Xuân Th để chở bạn gái đi chơi, còn Th chạy xe máy của Th4. Sau khi đổi xe, Th4 điều khiển xe máy hiệu Vespa biển số 59T1 - 964.13 của Th rời đi. Lúc này, H rủ Th cùng đi đánh Th1 và Th đồng ý. Sau đó, D, H, Th và Tr đến nhà Nguyễn Đức Ph lấy thêm dao để tấn công Th1. D gọi điện cho Ph để mượn 02 con dao (D không rủ Ph và không nói cho Ph biết mục đích mượn dao là để đi đánh nhau với Th1). Tr điều khiển xe máy hiệu Honda Vario biển số 59D2 - 846.29 chở H, Th điều khiển xe Yamaha Sirius biển số 59P3 - 227.10 chở D cùng đến đầu hẻm 81 đường N H, nay thuộc phường Tân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, D và Th vào nhà Ph ở địa chỉ 81/23 N H lấy 2 con dao (01 con dao tự chế dài khoảng 48cm và một dao dài khoảng 47cm), H và Tr đứng đợi ngoài đầu hẻm. Sau khi lấy được dao, cả nhóm di chuyển đi tìm Th1. Khi đến trước quán hủ tiếu tại số 102 Phan H Ích, phường Tân Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh, H phát hiện Âu Hoàng Th1 đang ngồi trong quán cùng 05 người khác gồm Phan Tr Nghĩa, Phan Hoàng Nam K, Lê Gia Ng, Trần Minh Nh và Huỳnh Văn C. H cầm dao bằng tay phải, nhảy xuống xe, lao vào quán Âu Hoàng Th1 thấy vậy nên bỏ chạy. H đuổi theo và chém một nhát trúng tay phải của Phan Tr Nghĩa. Th và D, mỗi người cầm một con dao, cùng xông vào quán đuổi chém Phan Hoàng Nam K. Khi K bị ngã trong lúc bỏ chạy, D chém một nhát, Th chém hai nhát trúng lưng của K. Sau khi tấn công Ngh, H tiếp tục quay lại chém K hai nhát trúng tay trái và chân trái, gây thương tích. Riêng Tr không tham gia đánh nhau do không có vũ khí, chỉ ngồi trông chừng. Thấy K và Nghĩa chạy trốn vào nhà trọ số 102/1/1 Phan Huy Ích, H leo lên xe do Tr điều khiển để bỏ đi, còn Th cũng chở D rời khỏi hiện trường. Khi cả nhóm di chuyển đến đường Phan Văn Hớn thì thấy Th1 đang chở K, còn Nh chở Ng đi cấp cứu. Cả nhóm tiếp tục truy đuổi nhưng không kịp. Đến ngã ba khu công nghiệp Tân Bình, Th dừng xe để cất áo khoác vào cốp xe, Tr cũng dừng xe để H cởi áo và ném 01 con dao gây án xuống bãi cỏ. Cả nhóm quay lại đầu hẻm 81 N H để trả lại cho Ph 02 con dao đã mượn. Sau đó, cả nhóm cùng đi uống cà phê phía sau Trường THCS Lê Quý Đôn. Đến khoảng 01 giờ 15 sáng ngày 07/05/2024, Tr, Th và D ra về, H quay lại bãi cỏ nhặt con dao rồi mang đến Cầu số 1 kênh Nhiêu Lộc để phi tang.

Sau khi bị chém gây thương tích, Phan Trọng N và Phan Hoàng Nam K được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Thống Nhất, kết quả chẩn đoán: Phan Trọng N bị vết thương đứt gân khuỷu tay phải, Phan Hoàng Nam K bị vết thương đứt gân khuỷu tay trái, đứt gân cổ chân trái và vết thương lưng.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 229/KLTTCT-PVPYQG ngày 16/9/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể của Phan Trọng N là 02%, thương tích vùng cẳng tay phải của Phan Trọng N là do vật sắc tác động trực tiếp gây ra và không gây nguy hiểm đến tính mạng, 02 con dao mẫu vật gửi giám định có thể gây ra được thương tích vùng cẳng tay phải của Phan Trọng N.

Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 228/KLTTCT-PVPYQG ngày 06/12/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể của Phan Hoàng Nam K là 10%, các thương tích để lại sẹo lưng trái, khuỷu tay trái, cổ chân trái và mu bàn chân trái của Phan Hoàng Nam K là do vật sắc tác động trực tiếp gây ra, nếu được điều trị và cấp cứu kịp thời không gây nguy hiểm đến tính mạng, 02 con dao mẫu vật gửi giám định có thể gây ra được thương tích trên của Phan Hoàng Nam K.

Quá trình truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đã tiến hành truy xét, ghi lời khai đối với Nguyễn Trần Khắc D và Nguyễn Đức T. Mai Xuân T và Trần Lê H ra đầu thú. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Lê H, Nguyễn Thành Khắc D, Mai Xuân T, Nguyễn Đức T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập thể hiện trong hồ sơ vụ án.

Ngày 09/05/2024, Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Tân Bình (nay là UBND Phường Tân Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh) có Công văn số 546/UBND xác định vụ việc nêu trên gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa Ph với mức độ nghiêm trọng.

Trần Lê H, Nguyễn Thành Khắc D, Mai Xuân T có hành vi sử dụng dao chém gây thương tích cho Phan Trọng N (tỷ lệ thương tích 02%) và Phan Hoàng Nam K (tỷ lệ thương tích 10%), ông Nghĩa và ông K có đơn xin bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không khởi tố xử lý đối với hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Đối với Lê Minh Th4, Nguyễn Đức P có hành vi cung cấp dao cho các bị cáo nhưng không biết các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và cũng không tham gia đánh nhau nên Cơ quan điều tra không khởi tố, xử lý.

Vật chứng:

- 04 bộ trang phục thu giữ của các bị cáo.

- 01 điện thoại di động Iphone Pro max màu vàng, số seri: TXH97RFHQF, số IMEI: 353282629091056 đã qua sử dụng (D); 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu trắng (Trọng); 01 điện thoại Mobell M529i màu đen (H);

- 01 con dao tự chế dài khoảng 48cm và 01 con dao phai dài khoảng 47cm;

- 01 xe máy Yamaha Sirius BS: 59P3 – 221.70. Qua xác minh, chiếc xe máy này do Lê Thị Mỹ C đăng ký sở hữu cho cháu là Lê Minh Th4 mượn sử dụng, bà C không biết việc các bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý vật chứng trả xe cho bà C.

- 01 xe máy Honda Vario BS: 59D2 – 846.29. Qua xác minh Trần Lê H đứng tên chủ sở hữu.

- 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận nội dung vụ án và 04 đĩa DVD chứa dữ liệu lời khai đính kèm hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình các bị cáo đã bồi thường cho ông Phan Trọng N và Phan Hoàng Nam K. Ông N và ông K có đơn xin bãi nại, không có yêu cầu khác.

Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKS-KV4 ngày 18 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Lê H, Nguyễn Thành Khắc D, Mai Xuân T, Nguyễn Đức T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa

Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh nêu tóm tắt nội dung vụ án, nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Lê H từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khỏan 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 58 xử phạt các bị cáo Nguyễn Thành Khắc D 01 năm 09 tháng 02 ngày tù, Nguyễn Đức T 01 năm 09 tháng 02 ngày tù, Mai Xuân T 01 năm 09 tháng 03 ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” bằng thời gian các bị cáo bị tạm giam. Về vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận, không bào chữa, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cơ hội sửa đổi, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Trần Lê H, Nguyễn Thành Khắc D, Mai Xuân T, Nguyễn Đức T, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo, ngưởi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của ngưởi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận vào ngày 06/5/2024, Trần Lê H rủ Nguyễn Đức T, Mai Xuân T, Nguyễn Thành Khắc D đi đánh nhau với nhóm của Âu Hoàng Th1. Sau khi đã chuẩn bị hung khí là 03 con dao, Trọng điều khiển xe máy hiệu Honda Vario biển số 59D2 - 846.29 chở Huy, Thành điều khiển xe Yamaha Sirius biển số 59P3 - 227.10 chở D đến trước số 102A Phan H Ích, Phường 15, quận Tân Bình tìm đánh nhóm của Th1. Trọng dừng xe máy chờ bên ngoài, H, Thành, D mỗi người cầm 01 con dao đuổi chém gây thương tích cho Phan Trọng N và Phan Hoàng Nam K. Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa Ph với mức độ nghiêm Tr (theo Công văn số 546/UBND ngày 09/05/2024 của UBND Phường 15, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).

Hành vi do các bị cáo Trần Lê H, Nguyễn Đức T, Mai Xuân T, Nguyễn Thành Khắc D thực hiện đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” thuộc trường hợp “Dùng hung khí”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo mang theo dao là hung khí nguy hiểm rượt đuổi trên đường, tấn công gây thương tích cho người khác là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ của người khác mà còn gây tâm lý hoang mang và phẫn nộ trong xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi do mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng do bốc đồng, xuất phát từ những hành vi thiếu chuẩn mực, muốn giải quyết những mâu thuẫn trong đời sống bằng bạo lực các bị cáo đã tụ tập đánh nhau, cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử mức án phù hợp, có tác dụng răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét hành vi của các bị cáo mang tính đồng phạm giản đơn, bộc phát nhất thời, không có sự phân công phân nhiệm, bàn bạc trao đổi trước. Trong vụ án này bị cáo Trần Lê H có vai trò là người đề xướng, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác phạm tội nên hình phạt phải nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Các bị cáo Nguyễn Thành Khắc D, Nguyễn Đức T, Mai Xuân T tham gia với vai trò giúp sức, thời gian tạm giam cũng đủ sức răn đe nên không cần thiết tiếp tục cách ly các bị cáo mà cho các bị cáo trở về với gia đình, xã hội có cơ hội để sửa đổi bản thân. Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xử phạt các bị cáo bằng thời gian tạm giam là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: nhân thân các bị cáo chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả, ông Phan Hoàng Nam K và Phan Trọng N xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo H, bị cáo T đầu thú để giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được gia đình các bị cáo bồi thường, đã nhận lại tài sản không có ý kiến yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng:

- 04 khẩu trang; 01 áo khác màu xanh đen có mũ; 01 quần lửng màu trắng; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 03 đôi dép quai ngang màu đen; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen; 01 áo khoác có mũ màu đen; 01 quần sọc màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 02 nón bảo hiểm màu xám; 01 quần jean dài màu xanh dương; 01 áo thun trắng ngắn tay; 01 áo khoác màu vàng xanh có in chữ BEE; 01 đôi dép kẹp màu đen; 01 áo thun màu đen, 01 quần dài màu đen; 01 áo khác có mũ màu xám, là vật dụng cá nhân của các bị cáo, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe máy Honda Vario BS: 59D2 – 846.29. Qua xác minh Trần Lê H đứng tên chủ sở hữu, bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- 01 con dao tự chế dài khoảng 48cm và 01 con dao phai dài khoảng 47cm là công cụ gây án, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động Iphone Pro max màu vàng, số seri: TXH97RFHQF, số IMEI: 353282629091056 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu trắng; 01 điện thoại Mobell M529i màu đen các bị cáo liên lạc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Lê H;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Mai Xuân Th, Nguyễn Đức Tr, Nguyễn Thành Khắc D;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Xử phạt bị cáo: TRẦN LÊ H 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

- Xử phạt bị cáo: NGUYỄN THÀNH KHẮC D 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng 02 (Hai) ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024. Bị cáo đã chấp hành xong.

- Xử phạt bị cáo: NGUYỄN ĐỨC T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng 02 (Hai) ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024. Bị cáo đã chấp hành xong.

- Xử phạt bị cáo: MAI XUÂN T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng 03 (Ba) ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024. Bị cáo đã chấp hành xong.

Căn cứ khoản 5 điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định trả tự do cho các bị cáo Nguyễn Thành Khắc D, Nguyễn Đức T, Mai Xuân T tại phiên toà nếu các bị cáo không phạm tội nào khác.

[2] Xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe máy Honda Vario BS: 59D2 – 846.29; 01 điện thoại di động Iphone Pro max màu vàng, số seri: TXH97RFHQF, số IMEI: 353282629091056 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu trắng; 01 điện thoại Mobell M529i màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao tự chế dài khoảng 48cm và 01 con dao phai dài khoảng 47cm; 04 khẩu trang; 01 áo khác màu xanh đen có mũ; 01 quần lửng màu trắng; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 03 đôi dép quai ngang màu đen; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen; 01 áo khoác có mũ màu đen; 01 quần sọc màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 02 nón bảo hiểm màu xám; 01 quần jean dài màu xanh dương; 01 áo thun trắng ngắn tay; 01 áo khoác màu vàng xanh có in chữ BEE; 01 đôi dép kẹp màu đen; 01 áo thun màu đen; 01 quần dài màu đen; 01 áo khoác có mũ màu xám.

(Theo Biên bản giao vật chứng, tài sản số 168/BB/2026 ngày 11/02/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh).

[3] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

[4] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Cỡ chữ