vanban.org

Bản án 102/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tường V được ly hôn với anh Võ Văn H. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Tường V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Văn H, sinh ngày 23/10/2011 và Võ Hiếu Ng, sinh ngày 25/10/2021. Anh Võ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tường V-Văn H_Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2026
V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Sửu và bà Lê Thị Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quảng Đại Phát – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 99/2026/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 74/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2026, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn N, xã P, tỉnh Khánh Hòa. (Xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Võ Văn H, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Thôn N, xã P, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/3/2026 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V trình bày:

Chị và anh Võ Văn H, tự tìm hiểu nhau, đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2011 ngày 19/5/2011. Sau khi lấy nhau vợ chồng về sống tại thôn N, xã P, thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2024 mâu thuẫn gia đình xảy ra. Nguyên nhân là do anh H có người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cải nhau, chồng không quan tâm gì đến gia đình. Hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau, anh H bỏ về nhà cha mẹ sống từ năm 2025 cho đến nay, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Văn H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Văn H, sinh ngày 23/10/2011 và Võ Hiếu Ng, sinh ngày 25/10/2021. Hiên nay chị đang nuôi con, nếu ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung: Chị và anh Võ Văn H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do đi làm ăn xa cả ngày, việc đi về rất khó khăn, chị yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị các phiên tòa sơ thẩm. Chị không có ý kiến gì thêm.

Về phía bị đơn: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Võ Văn H không đến Toà án làm việc và cũng không có ý kiến gì phản hồi liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tường V được ly hôn anh Võ Văn H.

- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Tường V được quyền nuôi 02 con chung tên Võ Văn H, sinh ngày 23/10/2011 và Võ Hiếu Ng, sinh ngày 25/10/2021. Anh Võ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản; nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tường V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tường V tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Võ Văn H có địa chỉ cư trú tại thôn N, xã P, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Khánh Hòa theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85 của Quốc hội, ngày 25/6/2025 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Nội dung các bên tranh chấp xuất phát từ mâu thuẫn gia đình dẫn đến xin ly hôn nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tường V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Tường V.

. Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Võ Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy báo lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Võ Văn H vẫn vắng mặt không có lý do; Điều này chứng tỏ anh Võ Văn H đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Võ Văn H.

Về nội dung tranh chấp:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Văn H có đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2011 ngày 19/5/2011. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Văn H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Trong quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Văn H không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ từ năm 2025 cho đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh Võ Văn H không tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tường V. Điều này chứng tỏ anh Võ Văn H có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xét thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Văn Hạnh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Tường V.

. Về con chung:

Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Văn H có 02 con chung tên Võ Văn H, sinh ngày 23/10/2011 và Võ Hiếu Ng, sinh ngày 25/10/2021. Khi chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Văn H không còn sống chung thì các con đang ở cùng với mẹ và được mẹ chăm sóc nuôi dưỡng, anh Võ Văn H không quan tâm đến con.

Quá trình giải quyết vụ án anh Võ Văn H vắng mặt, không cung cấp ý kiến về vấn đề nuôi dưỡng con chung. Hơn nữa, theo nguyện vọng của các con là muốn sống cùng với mẹ, do đó Hội đồng xét xử giao con chung cho chị Nguyễn Thị Tường V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, nguyện vọng của các con để đảm bảo cho các con phát triển toàn diện về tâm sinh lý về sau là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết, chị Nguyễn Thị Tường V không yêu cầu anh Võ Văn H cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù hợp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tường V không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Tường V tự nguyện xin chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 8 - Khánh Hòa, về nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật nghĩ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85 của Quốc hội, ngày 25/6/2025 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tường V được ly hôn với anh Võ Văn H.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Tường V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Văn H, sinh ngày 23/10/2011 và Võ Hiếu Ng, sinh ngày 25/10/2021. Anh Võ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tường V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0002102 ngày 25/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Chị Nguyễn Thị Tường V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ