vanban.org

Bản án 102/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị T1 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” với bị đơn anh Danh H. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thị T1 được ly hôn với anh Danh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "thi t"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – AN GIANG
Bản án số: 102/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 28/5/2026
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Pì Sách

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hợp; uỳnh

Ông Nguyễn Văn Kiện;

Thư ký phiên toà: Ông Danh Lý Khang – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa - Bà Trương Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2026/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân khu vực 3 – An Giang về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2026/QĐXX-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang và Quyết định hoãn phiên toà số: 68/2026/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Thị T1, Sinh năm: 1996

Địa chỉ: ấp T, xã C, tỉnh An Giang.

* Bị đơn: Anh Danh H, Sinh năm: 1988

Địa chỉ: ấp T, xã C, tỉnh An Giang.

(Chị Thị T1 có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt; anh Danh H vắng mặt lần 02 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thị T1 trình bày: Tôi và chồng là anh Danh H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là: Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh An Giang) theo Giấy kết hôn số: 152/2016 ngày 24/8/2016. Trong quá trình chung sống tôi và anh Danh H có 02 người con chung là: cháu Danh Ngọc P (sinh ngày: 29/12/2011); cháu Danh Ngọc H1 (sinh ngày: 01/10/2016) cả 02 người con chung hiện đang sinh sống cùng tôi, ngoài ra không có tài sản chung hay nợ chung. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau này thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nhiều lần vợ chồng tôi tự hàn gắn nhưng không đem lại kết quả. Xét thấy, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang giải quyết như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị T1 yêu cầu được ly hôn với anh Danh H.

2. Về con chung: Chị Thị T1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Danh Ngọc P (sinh ngày: 29/12/2011); cháu Danh Ngọc H1 (sinh ngày: 01/10/2016) và không yêu cầu anh Danh H cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Danh H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ kể từ khi thụ lý vụ án như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng bị đơn vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn xét xử kể từ ngày thụ lý vụ án đến ngày Quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị T1 về việc yêu cầu ly hôn với anh Danh H.

Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là cháu Danh Ngọc P (sinh ngày: 29/12/2011) và cháu Danh Ngọc H1 (sinh ngày: 01/10/2016) cho chị Thị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T1 không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Thị T1 xác định không có và không yêu cầu, do đó đề nghị HĐXX không xem xét.

Về nợ chung: Chị Thị T1 xác định không có và không yêu cầu, do đó đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

– Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang nhận được đơn khởi kiện chị Thị T1 yêu cầu ly hôn và giành quyền nuôi con với anh Danh H, nên Toà án xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Bị đơn anh Danh H có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại: Ấp T, xã C, tỉnh An Giang, do đó căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang.

– Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang đã triệu tập hợp lệ đối với nguyên đơn và bị đơn. Nhưng tại phiên toà nguyên đơn là chị Thị T1 có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt và bị đơn Danh H vắng mặt lần 02 và không có lý do vắng mặt, nên Tòa án căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, tiến hành xét xử vắng mặt chị T1 và anh H là phù hợp theo quy định pháp luật.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị T1 với anh Danh H có sự tự nguyện tìm hiểu nhau, sau đó chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (nay là: Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh An Giang) theo Giấy kết hôn số: 152/2016 ngày 24/8/2016, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Thời gian đầu vợ chồng chị T1, anh H chung sống hạnh phúc với nhau, nhưng thời gian gần đây cả hai thường xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ, chồng không còn hạnh phúc nên hai người đã ly thân với nhau.

Hơn nữa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa án, để tiến hành hòa giải giữa chị T1 với anh H, cũng như tạo điều kiện cho anh H có cơ hội để hàn gắn tình cảm với chị T1, nhưng anh H nhiều lần vắng mặt không có lý do, từ đó cho thấy anh H không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, để được đoàn tụ với chị T1.

Do đó, HĐXX nhận thấy mâu thuẫn giữa chị T1 với anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và đối chiếu theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cho chị T1 với anh H ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Thị T1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Danh Ngọc P (sinh ngày: 29/12/2011) và cháu Danh Ngọc H1 (sinh ngày: 01/10/2016), HĐXX nhận định như sau: cháu Danh Ngọc P và cháu Danh Ngọc H1 hiện đã trên 07 tuổi, do đó khi xét giao các cháu cho cha hoặc mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng khi ly hôn cần phải xem xét đến nguyện vọng của cháu, tại Bản trình bày nguyện vọng của mình, thì cháu P và cháu H1 đều có nguyện vọng được sinh sống cùng với chị Thị T1, hơn nữa hiện nay cả 02 cháu Ngọc P và Ngọc H1 cũng đang sinh sống cùng chị T1. Do đó, để tránh thay đổi môi trường sinh sống và học tập của các cháu, cũng như đảm bảo sự phát triển toàn diện về mọi mặt của trẻ nhỏ khi cha mẹ ly hôn thì cần tiếp tục giao cả 02 là cháu Danh Ngọc P (sinh ngày: 29/12/2011) và cháu Danh Ngọc H1 (sinh ngày: 01/10/2016) cho chị Thị T1 tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các cháu. Do chị Thị T1 không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.

- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Thị T1 xác định không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này nếu sau này có phát tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Thị T1 xác định không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này nếu sau này có phát tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Thị T1 là nguyên đơn do đó phải chịu án phí hôn nhân và gia đình với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị T1 đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 13 ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, nên chị T không phải nộp thêm.

– Về quyền kháng cáo: Chị Thị T1 và anh Danh H vắng mặt tại phiên toà, nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 232, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;

- Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Khoản 1 Điều 53; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị T1 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” với bị đơn anh Danh H.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thị T1 được ly hôn với anh Danh H.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Danh Ngọc P (sinh ngày: 29/12/2011) và cháu Danh Ngọc H1 (sinh ngày: 01/10/2016) cho chị Thị T1 tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các cháu. Do chị Thị T1 không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

3. Về tài sản chung: Chị Thị T1 xác định không có và không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Thị T1 xác định không có và không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

5. Về án phí: Buộc chị Thị T1 phải chịu các khoản án phí gồm: án phí ly hôn với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị T1 đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 13 ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, nên chị T1 không phải nộp thêm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Chị Thị T1 và anh Danh H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh An Giang;;

- VKSND khu vực 3,tỉnh An Giang;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Phòng THADS khu vực 3, tỉnh An Giang;

- UBND xã Châu Thành, tỉnh An Giang;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Danh Pì Sách

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ