- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến C.
- Căn cứ chính? Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2026/HNGĐ - ST Ngày: 28/07/2026 V/v: “Tranh chấp xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Văn Dương
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thùy Trang - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 07 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 124/2026/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 04 năm 2026 về “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2026/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 06 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 07 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1990
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Khối Q, phường T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Thanh T, sinh năm 1988
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: K, phường T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thái L, sinh năm 1988
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Số F, tổ E, phường T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Tiến C trình bày:
Chị Lê Thị Thanh T và anh Nguyễn Thái L là vợ chồng hợp pháp, chung sống với nhau đến năm 2018 thì ly thân. Trong thời gian chị T sống ly thân với anh L thì anh C và chị T nảy sinh quan hệ tình cảm, chị T mang thai và sinh một bé gái có tên đặt dự kiến là Nguyễn Tú L1, sinh ngày 19/05/2025 theo giấy chứng sinh số 903, quyển số 001 ngày 19/05/2025 tại Bệnh viện Đ. Ngày 25/12/2025, chị T và anh L được cho ly hôn theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2025/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An. Ngày 16/01/2026 anh C và chị T đăng ký kết hôn tại UBND phường T, tỉnh Nghệ An.
Ngày 28/01/2026, anh C lấy mẫu xét nghiệm ADN giữa anh và cháu gái có dự định đặt tên là Nguyễn Tú L1. Theo kết quả xét nghiệm ADN, KQ 207326GP ngày 30/01/2026 của Công ty TNHH D kết luận người có mẫu ghi tên Nguyễn Tiến C có quan hệ huyết thống cha con với người có mẫu ghi tên Nguyễn Tú L1 với độ tin cậy 99,99999%.
Nay để đảm bảo quyền lợi cho con mới sinh, anh C yêu cầu Tòa án xác định anh là cha của bé gái có tên đặt dự kiến là Nguyễn Tú L1, sinh ngày 19/05/2025 theo giấy chứng sinh số 903, quyển số 001 ngày 19/05/2025.
Bị đơn chị Lê Thị Thanh T trình bày:
Chị Lê Thị Thanh T và anh Nguyễn Thái L là vợ chồng hợp pháp, chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm nên nên ngày 10/11/2025 chị làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với anh L. Ngày 25/12/2025 Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An đã cho ly hôn theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2025/QĐST-HNG. Trong quyết định giải quyết ly hôn do chị T xác định cháu có dự định đặt tên là Nguyễn Tú L1 chưa làm khai sinh là con riêng của chị và anh C nên không đề nghị toà án giải quyết. Chị khẳng định cháu có dự định đặt tên là Nguyễn Tú L1 được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân đối với anh L là con đẻ của anh C theo kết quả xét nghiệm ADN số KQ 207326GP ngày 30/01/2026 của Công ty TNHH D.
Do đó chị T đồng ý với yêu cầu của anh C, đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Tiến C là cha đẻ của bé gái có tên đặt dự kiến là Nguyễn Tú L1, sinh ngày 19/05/2025.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thái L:
Do chị Thuỷ sinh bé gái có dự định đặt tên là Nguyễn Tú L1 trong thời kỳ hôn nhân với anh L nên Toà án xác định anh L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh L biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh L nhưng anh L không hợp tác, không có mặt để giải quyết vụ án nên Toà án không thể lấy lời khai và không tiến hành hoà giải được. Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu, chứng cứ cho anh L theo đúng quy định tại điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điều 88, 90, 91, 101 và 102 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến C, xác định anh C là cha đẻ của bé gái có tên đặt dự kiến là Nguyễn Tú L1, sinh ngày 19/05/2025 theo giấy chứng sinh số 903, quyển số 001 ngày 19/05/2025. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến C thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm và anh C có đơn đề nghị miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho anh C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Tiến C có nơi cư trú tại khối Q, phường T, tỉnh Nghệ An yêu cầu xác định cha cho con với bị đơn chị Lê Thị Thanh T là bị đơn có nơi cư trú tại khối L, phường T, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An theo quy định tại khoản 4 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về việc xét xử vắng mặt của đương sự:
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thái L, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh L biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh L nhưng anh L không hợp tác. Chính quyền địa phương, ban cán sự xóm đã phối hợp với gia đình báo cho anh L biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh L không đến và không có ý kiến gì. Tòa án đã tiến hành tống đạt các tài liệu, chứng cứ cho anh L theo đúng quy định tại điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Và tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại điều 227, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn anh Nguyễn Tiến C và bị đơn chị Lê Thị Thanh T đều xác định anh C và chị T phát sinh quan hệ tình cảm và mang thai với anh C khi đang trong thời kỳ hôn nhân với anh Nguyễn Thái L. Ngày 19/05/2025, chị Thủy S một bé gái có tên đặt dự kiến là Nguyễn Tú L1, theo giấy chứng sinh số 903, quyển số 001 tại Bệnh viện Đ. Ngày 25/12/2025, chị T và anh L ly hôn theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2025/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An. Trong quá trình giải quyết ly hôn chị T và anh L thống nhất không đưa cháu có dự định đặt tên là Nguyễn Tú L1 vào để giải quyết.
Đối với yêu cầu của anh C, anh Nguyễn Thái L không có ý kiến gì nhưng chị T và anh C đều xác định anh C là cha đẻ của cháu bé. Theo kết quả phân tích ADN số KQ 207326GP ngày 30/01/2026 của Công ty TNHH D kết luận: “người có mẫu ghi tên Nguyễn Tiến C có quan hệ huyết thống cha con với người có mẫu ghi tên Nguyễn Tú L1 với độ tin cậy 99,99999%” là căn cứ pháp lý.
Trên cơ sở lời khai của các đương sự, kết quả xét nghiệm ADN xác định anh Nguyễn Tiến C là cha đẻ của cháu có dự định đặt tên là Nguyễn Tú L1. Do đó đủ cơ sơ chấp nhận yêu cầu của anh C.
Về án phí: đây là tranh chấp xác định cha cho con chưa thành niên nên các đương sự được miễn án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điều 147 điểm b khoản 2 điều 227; điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật dân sự; điều 88; điều 90; điều 91; khoản 2 điều 101; khoản 2, khoản 3 điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến C.
1. Xác định anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1990; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: khối Q, phường T, tỉnh Nghệ An là cha đẻ của cháu dự kiến đặt tên là Nguyễn Tú L1, giới tính nữ, sinh ngày 19/05/2025 theo giấy chứng sinh số 903, quyển số 001 tại Bệnh viện Đ cấp ngày 19/05/2025.
2. Anh Nguyễn Tiến C và chị Lê Thị Thanh T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật cho cháu có tên dự kiến là Nguyễn Tú L1, giới tính nữ, sinh ngày 19/05/2025 theo giấy chứng sinh số 903, quyển số 001 tại Bệnh viện Đ cấp ngày 19/05/2025.
3. Về án phí: đây là tranh chấp xác định cha cho con chưa thành niên nên các đương sự được miễn án phí theo quy định tại điểm b, khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
4. Anh Nguyễn Tiến C và chị Lê Thị Thanh T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thái L có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 8 -Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - THADS tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hương |