- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy L vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ (điều 260 Bộ luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2025/HS-ST Ngày: 11-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Minh Loan
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Duy L - sinh ngày 14-5-1984 tại: Thành phố Hà Nội; địa chỉ đăng ký thường trú: Xóm K, xã S, huyện S, tỉnh Hòa Bình; địa chỉ cư trú: Xóm K, xã S, huyện S, tỉnh Hòa Bình; số căn cước công dân: 00108407xxxx; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy D và bà Đỗ Thị L1 (tức Nguyễn Thị L1); có vợ Nguyễn Thị Ngọc H và 03 con; tiền án: Ngày 26-01-2024 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” (chấp hành án từ ngày 15-3-2024), tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09-02-2025, chuyển tạm giam từ ngày 18-02-2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Nam Định thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Hà Thị Kim Đ, sinh ngày 28-12-1958; địa chỉ đăng ký thường trú: Số 400 đường L, phường N, thành phố Đ, tỉnh Nam Định (đã chết).
+ Người đại diện theo pháp luật của bà Hà Thị Kim Đ:
Anh Trịnh Quý H1, sinh năm 1983; địa chỉ đăng ký thường trú: Số 400 đường L, phường N, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; địa chỉ cư trú: Căn hộ 2206B, HH1, A13, Khu đô thị hai bên đường T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội (con trai bà Hà Thị Kim Đ). Vắng mặt tại phiên tòa.
Anh Trịnh Quang H2, sinh năm 1988; địa chỉ đăng ký thường trú: Số 7A/282 đường B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; địa chỉ cư trú: Số 78 đường T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định (con trai bà Hà Thị Kim Đ). Vắng mặt tại phiên tòa.
Chị Trịnh Thị Thu T, sinh năm 1995; địa chỉ đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; địa chỉ cư trú: Thôn T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định (con gái bà Hà Thị Kim Đ). Vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Trịnh Quý H1, anh Trịnh Quang H2, chị Trịnh Thị Thu T: Anh Trần Xuân H3, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy L (có giấy phép lái xe hạng A1, C) là lái xe thuê của Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và dịch vụ L, địa chỉ trụ sở tại: Số 14/22 đường T, phường N, quận L, thành phố Hà Nội. Khoảng 15 giờ 05 phút ngày 08-02-2025, L điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu FRR90N4, màu trắng, biển kiểm soát 29C-892.xx đi trên Quốc lộ 21B, hướng từ thành phố Nam Định đi tỉnh Hà Nam trong điều kiện: Quốc lộ 21B là đường đôi, ở giữa có dải phân cách cứng dạng bồn hoa để chia thành hai chiều đường riêng biệt, mỗi chiều đường rộng 12m được phân chia thành 03 làn đường, xác định bằng vạch sơn trắng; mặt đường trải nhựa bằng phẳng; trời sáng, không mưa, mặt đường khô ráo, mật độ người và phương tiện tham gia giao thông bình thường. L điều khiển xe ô tô đi tại làn đường ngoài cùng bên trái theo chiều đi, cách dải phân cách cứng giữa đường khoảng 0,5m với vận tốc khoảng 60km/h. Khi đi đến cách điểm mở tại Km 92 Quốc lộ 21B, phường Hưng Lộc, thành phố Nam Định khoảng 50m, L quan sát thấy phía trước bên phải có 01 xe mô tô kiểu dáng CUP, màu sơn xanh, biển kiểm soát 18-325-V do bà Hà Thị Kim Đ điều khiển đi tại làn đường ngoài cùng bên phải với vận tốc khoảng 10km/h. L giữ nguyên tốc độ và điều khiển xe ô tô tiến về phía trước theo hướng đi, đồng thời cúi xuống quan sát đồng hồ trên mặt táp lô xe. Khoảng 02 giây sau L ngẩng mặt lên thì nhìn thấy xe mô tô do bà Đ điều khiển bật xin nhan chuyển hướng sang trái theo chiều đi, cách đầu xe ô tô do L điều khiển khoảng 5m. Thấy vậy, L đánh lái sang trái để tránh va chạm nhưng do khoảng cách quá gần nên đã để phần đầu bên phải xe ô tô do L điều khiển va chậm vào phần đuôi bên trái xe mô tô do bà Đ điều khiển làm xe mô tô bị đổ và bà Đ bị ngã trượt trên mặt đường khoảng 5m. Xe ô tô do L điều khiển tiếp tục di chuyển về phía trước khoảng 50m thì dừng lại. Bà Đ bị ngã bất tỉnh, phần đầu chảy máu được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày bà Đ đã tử vong.
Sau khi xảy ra sự việc, Nguyễn Duy L đã đến cơ quan điều tra để đầu thú và khai nhận hành vi của bản thân như đã nêu trên.
Ngay sau khi sự việc xảy, cơ quan điều tra đã phối hợp cùng Phòng PC08 – Công an tỉnh Nam Định đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và ma túy trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Duy L. Kết quả: Không có nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Duy L; trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Duy L âm tính với các chất ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã chủ trì phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện trong vụ tai nạn giao thông, xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 92 Quốc lộ 21B, phường Hưng Lộc, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định là đoạn đường đôi ở giữa có dải phân cách cứng dạng bồn hoa phân chia thành hai chiều đường riêng biệt, mỗi chiều đường có 03 làn đường được phân chia bằng vạch sơn trắng. Lấy chân cột mốc Km92 Quốc lộ 21B dựng trên dải phân cách cứng để khám nghiệm hiện trường.
Hiện trường để lại các dấu vết, phương tiện:
(1) Vết cày dài 4,4m, chiều từ thành phố Nam Định đến tỉnh Hà Nam, chếch từ phía dải phân cách cứng ra phía mép đường chuẩn. Đầu vết cách mét đường chuẩn 7,00m và cách mốc 48,5m. Điểm cuối vết trùng cạnh ngoài giá để chân người lái bên trái xe mô tô biển kiểm soát 18-xxx-V và cách mép đường chuẩn 5,1m.
(2) Xe mô tô biển kiểm soát 18-xxx-V: Sau va chạm xe đổ nghiêng trái trên mặt đường Quốc lộ 21B. Đầu xe quay phía thành phố Nam Định, chếch về phía dải phân cách cứng. Đuôi xe quay phía tỉnh Hà Nam. Đầu trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn 5,4m, đầu trục bánh sau xe cách ra mép đường chuẩn 4,8m.
(3) Vết xước trên mặt đường quốc lộ 21B kích thước 1,8m x 0,1m, có chiều hướng từ thành phố Nam Định về phía tỉnh Hà Nam xiên chếch từ phía dải phân cách cứng ra phía mép đường chuẩn. Đầu vết cách mép đường chuẩn 7,3m và cách đầu trục bánh sau bên trái xe mô tô 18-xxx-V là 2,85m, điểm cuối vết cách mép đường chuẩn 6,8m.
(4) Vết miết trên mặt đường Quốc lộ 21B kích thước 5,3m x 0,1m có chiều hướng từ thành phố Nam Định đến tỉnh Hà Nam, xiên chếch từ phía dải phân cách cứng ra phía mép đường chuẩn. Đầu vết cách mép đường chuẩn 5,95m và cách cuối vết miết 05m. Điểm cuối vết cách mép đường chuẩn 04m.
(5) Vết máu thứ nhất không xác định hình dạng trên mặt đường Quốc lộ 21B kích thước 0,8m x 0,4m. Tâm vết cách mép đường chuẩn 05m và cách cuối vết miết 2,45m.
(6) Vết máu thứ hai không xác định hình dạng trên mặt đường Quốc lộ 21b, kích thước 0,4m x0,2m và cách tâm vết máu (1) là 1,4m.
(7) Xe ô tô tải biển kiểm soát 29C – 892.xx dừng lại trên mặt đường Quốc lộ 21B, đầu xe hướng tỉnh Hà Nam. Đầu trục bánh sau bên phải xe cách mép đường chuẩn là 10m và cách tâm vết máu (2) là 37,3m và cách đầu trục bánh sau bên trái xe mô tô 18-325-V là 50,7m. Đầu trục bánh trước bên phải xe cách mép đường chuẩn 10,75m.
Khám nghiệm phương tiện:
* Khám nghiệm xe ô tô 29C - 892.xx:
- Tại mặt ngoài chắn đà, cụm đèn chiếu sáng, cánh cửa, ốp cánh cửa tai xe phía trước bên phải có vết trượt xước trên bề mặt kích thước 75 cm x 50cm, vỡ đèn xi nhan. Vết có chiều từ trước về sau, điểm gần nhất trùng cạnh ngoài chắn đèn phía trước bên phải xe, điểm thấp nhất cách mặt đất 50cm, điểm cao nhất cách mặt đất 125cm.
- Má lốp ngoài bánh trước bên trái có vết trượt xước nổi mùn cao xu đen, kích thước 25cm x 15cm. Vết có chiều từ ngoài vào trong tâm trục bánh xe và xuôi theo chiều trên bánh xe, điểm gần nhất cách cạnh đầu chữ M của dòng chữ MAXXIS in nổi trên bề mặt má lốp là 11cm đo theo đường thẳng trên bánh xe.
- Mặt ngoài chân gương, tai gương chiếu hậu bên phải có vết trượt chùi sạch bụi đất ở chân gương kích thước 22cm x 20cm, làm cong tai gương, bong lớp sơn phủ ngoài, trên mặt vết dính chất sợi nhiều màu. Vết có chiều từ trước về sau, điểm gần nhất cách cạnh dưới chân gương là 6cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 127 cm, điểm cao nhất cách mặt đất là 149cm
* Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 18-xxx-V:
- Vết trượt nhựa kéo dài từ mặt ngoài cánh yếm chắn gió đến ốp nhựa càng xe bánh trước bên trái, kích thước 50cm x 30cm, chiều từ trái sang phải xe, vỡ cánh yếm chắn gió, xước mặt ốp nhựa và xước càng xe bánh trước gãy rời chắn bùn bánh trước. Điểm gần nhất cách cạnh phía dưới cánh yếm chắn gió bên trái xe 23cm điểm thấp nhất cách mặt đất là 40cm, điểm cao nhất cách mặt đất là 90cm.
- Tại mặt ngoài cần số, cụm giá để chân gắn với chân chống phụ bên trái xe có vết trượt làm cong gập biến dạng cần số và giá để chân người lái áp sát vào lốc máy, chiều từ trái sang phải, kích thước 33cm x 23cm, điểm gần nhất cách cạnh phía dưới chân chống phụ bên dưới xe 8cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 4cm, điểm cao nhất cách mặt đất 27cm.
- Tại mặt ngoài yên xe phía sau, khung kim loại bảo vệ đèn hậu, góc biển số, cụm đèn xin nhan phía sau bên trái xe có vết xước mặt yên xe, bẹp méo biến dạng khung bảo vệ đèn làm vỡ cụm đèn chiếu sáng phía sau, cụm đèn xi nhan, cong gập biển số, chiều hướng từ sau về trước, từ trái sang phải, kích thước 22cm x 20cm, điểm gần nhất cách cạnh dưới góc bên trái biển số bên trái xe là 4cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 47 cm, điểm cao nhất cách mặt đất là 67cm. Bề mặt biển số có vết trượt xước kim loại.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã tiến hành trưng cầu giám định nguyên nhân chết và cơ chế hình thành vết thương bà Hà Thị Kim Đ. Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 425/KLGĐTT-KTHS ngày 10-02-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Nạn nhân Hà Thị Kim Đ chết do đa chấn thương. Cơ chế: do va đập và trà sát.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định dữ liệu điện tử đối với 01 đoạn video clip trích xuất từ camera hành trình phía trước xe ô tô tải biểm kiểm soát 29C – 892.xx (ký hiệu A). Tại bản Kết luận giám định số 481/KL-KTHS ngày 31-3-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình trong toàn bộ mẫu gửi giám định (Ký hiệu: A). Tốc độ của xe ôtô biển kiểm soát: 29C-892.85 từ thời điểm 00h40’32” đến điểm 00h40’33” trong; mẫu giám định (Ký hiệu: A) là 60,48Km/h (±2,02Km/h). Tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 18-325-V từ thời điểm 00h40’32” đến thời điểm 00h40’33” trong mẫu giám định (Ký hiệu: A) là 13,5Km/h (±0,45Km/h). Tại thời điểm xảy ra va chạm 00h40’34” trong mẫu giám định (Ký hiệu: A) hai xe đang di chuyển tại làn đường bên trái (cạnh dải phân cách cứng) theo chiều di chuyển của hai xe.
Về bồi thường dân sự: Nguyễn Duy L đã bồi thường cho gia đình bà Hà Thị Kim Đ số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện gia đình bà Hà Thị Kim Đ đã nhận đủ số tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Duy L.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29C-892.85 là tài sản hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và dịch vụ L nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho người đại diện hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và dịch vụ L là ông Bùi Nam T, sinh năm 1981, nơi cư trú: Tiểu khu x, thị trấn S, huyện S, tỉnh Hòa Bình. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18-xxx-V là tài sản hợp pháp của bà Hà Thị Kim Đ nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh Trần Xuân H3 là người được gia đình bà Hà Thị Kim Đ ủy quyền để làm việc với các cơ quan pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
Bản cáo trạng số 103/CT-VKS-TPNĐ ngày 19-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy L đã thành khẩn khai báo toàn bộ sự việc gây tai nạn giao thông làm bà Hà Thị Kim Đ bị tử vong như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Duy L tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 1, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L từ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù đến 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt chưa thi hành của bản án số 19/2024/HS-ST ngày 26-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Buộc bị cáo Nguyễn Duy L phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Nguyễn Duy L từ 02 năm đến 03 năm.
- Buộc bị cáo Nguyễn Duy L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Duy L nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin lỗi gia đình bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy L và những người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Duy L tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường ngày 08-02-2025, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 08-02-2025, biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 08-02-2025, bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 425/KLGĐTT-KTHS ngày 10-02-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 15 giờ 05 phút ngày 08-02-2025, bị cáo Nguyễn Duy L (có giấy phép lái xe hạng A1, C hợp lệ) điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu FRR90N4, màu trắng, biển kiểm soát 29C-892.xx di chuyển tại làn đường bên trái (cạnh dải phân cách cứng) theo chiều di chuyển của xe tại đoạn đường Km 92 Quốc lộ 21B, phường Hưng Lộc, thành phố Nam Định ở chiều đường hướng từ thành phố Nam Định đến thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Khi đi đến khu vực điểm mở giữa hai chiều đường, Nguyễn Duy L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C-892.85 không chú ý quan sát, cúi xuống nhìn đồng hồ trên mặt táp lô dẫn đến không đảm bảo khoảng cách an toàn với xe phía trước cùng làn đường, không giảm tốc độ khi có tín hiệu xin đường của xe đi cùng chiều phía trước nên đã để phần đầu bên phải phía trước xe ô tô tải xô vào phần đuôi bên trái xe mô tô biển kiểm soát 18-325-V do bà Hà Thị Kim Đ điều khiển làm xe mô tô biển kiểm soát 18-325-V bị đổ và bà Đ bị ngã trượt trên mặt đường khoảng 5m. Hậu quả bà Hà Thị Kim Đ tử vong do đa chấn thương.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hợp lệ và hiểu rõ các quy định của Luật Giao thông đường bộ nhưng đã vô ý điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C-892.85 không chú ý quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn với xe phía trước cùng làn đường, không giảm tốc độ khi có tín hiệu xin đường của xe đi cùng chiều phía trước, đã vi phạm khoản 1, điểm h khoản 3 Điều 12 và khoản 28 Điều 9 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, khoản 1 Điều 4 Thông tư số 38/2024/TT-BGTVT ngày 15-11-2024 của Bộ Giao thông vận tải, gây ra tai nạn có hậu quả làm chết 01 người. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Duy L đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Nguyễn Duy L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được những người đại diện hợp pháp của bị hại công nhận đã hoàn thành việc bồi thường, đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo Nguyễn Duy L sẽ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa chấp hành xong hình phạt lại tiếp tục phạm tội mới, tuy nhiên lần phạm tội này bị cáo phạm tội với lỗi vô ý và bị truy tố theo khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt đến 05 năm tù, là tội nghiêm trọng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự lần phạm tội này của bị cáo không thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy L là nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên do bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức tương xứng của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tổng hợp hình phạt:
Ngày 26-01-2024 bị cáo Nguyễn Duy L bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo đã chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 15-3-2024 đến thời điểm bị tạm giữ vì phạm tội mới ngày 09-02-2025. Theo quy định tại b khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù thì phần hình phạt bị cáo chưa chấp hành của bản án số 19/2024/HS-ST ngày 26-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn là 07 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ, được chuyển đổi thành 02 tháng 12 ngày tù. Hội đồng xét xử sẽ tổng hợp hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự và buộc bị cáo Nguyễn Duy L phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
Về hình phạt bổ sung:
Trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án trước mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới về cùng tội danh “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn nhất định kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Về phần trách nhiệm dân sự:
Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Nguyễn Duy L đã tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Hiện tại các bên xác định phần bồi thường dân sự đã giải quyết xong, không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết về vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án.
Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Duy L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 1, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 19/2024/HS-ST ngày 26-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn là 02 tháng 12 ngày tù, buộc bị cáo Nguyễn Duy L phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 12 (mười hai) ngày tù.
Thời hạn tù của bị cáo Nguyễn Duy L tính từ ngày 09-02-2025.
Cấm bị cáo Nguyễn Duy L hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 03 (ba) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
2. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Duy L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Duy L có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trịnh Quý H1, anh Trịnh Quang H2, chị Trịnh Thị Thu T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Nguyễn Duy L có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Mai Thị Thu Hiền THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Thu Hiền |