- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Vũ B can tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các biện pháp tư pháp:
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2025/HS-ST Ngày: 10-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Kỳ Trung;
Bà Huỳnh Thị Phương Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Bảo Việt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12
– Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên
tòa: Bà Lê Huỳnh Như Nguyện – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 - Tây
Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Vũ B, sinh năm 1997, tại: Tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh). Nơi
thường trú: Ấp A, xã BT, huyện ĐH, tỉnh Long An (nay là ấp GL, xã ĐH, tỉnh Tây Ninh). Nơi ở hiện nay: Ấp AT, xã ANT, huyện ĐH, tỉnh Long An (nay là ấp AT, xã AN, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lê Văn C và bà Phan Thị L; vợ: Nguyễn Thị Tú T (chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm 2018; tiền án: Không có;
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6754/QĐ ngày
29/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã Phú Túc, tỉnh Vĩnh Long) xử phạt số tiền 80.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 1.200 bao đến 1.500 bao; xử phạt bổ sung: buộc nộp số tiền 15.300.000 đồng, chưa nộp phạt (chưa đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
Nhân thân: Ngày 27/01/2023, bị Công an thị trấn Đông Thành, huyện Đức
Huệ, tỉnh Long An xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (đã nộp phạt).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu
vực II (nay là Phân trại tạm giam Gia Lộc) thuộc Trạm tạm giam số 1 Công an tỉnh Tây Ninh; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp PH, xã PC, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; địa chỉ: khu phố AQ, phường TT, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Thanh T, sinh năm 2003; địa chỉ: ấp AT, xã AN, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài và biết những người bán thuốc lá điếu nhập lậu sẽ
không đến Cơ quan Công an trình báo nên Lê Vũ B nảy sinh ý định tìm các cửa hiệu tạp hóa hỏi mua thuốc lá điếu nhập lậu và lợi dụng sơ hở để chiếm đoạt thuốc lá đem bán; với thủ đoạn như nêu trên, Lê Vũ B đã thực hiện 02 vụ cướp giật thuốc lá điếu nhập lậu trên địa bàn phường Trảng Bàng và xã Phước Chỉ, tỉnh Tây Ninh, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 12/3/2025, B điều khiển xe mô
tô Future, màu đỏ đen, biển số 70F1-338.79 một mình mang theo túi xách màu xanh đi từ nhà đến khu vực xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (nay là xã Phước Chỉ, tỉnh Tây Ninh) tìm các tiệm tạp hóa để hỏi mua thuốc lá điếu nhập lậu. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, B đến tiệm tạp hóa Như Lâm do bà Nguyễn Thị Bọt làm chủ hỏi mua thuốc lá điếu nhập lậu số lượng lớn nhưng không có nên bà Bọt giới thiệu B liên hệ với bà Nguyễn Thị N để mua thuốc lá điếu. Sau đó, B điện thoại cho bà N và hỏi mua 400 bao thuốc lá điếu loại Jet trắng được nhập lậu với số tiền là 8.600.000 đồng. Khi đến nhà bà N tại ấp Phước Hòa, xã Phước Chỉ, tỉnh Tây Ninh, B và bà N cùng sắp xếp thuốc lá điếu nhập lậu vào trong túi xách màu xanh do B đã chuẩn bị sẵn và để trên xe mô tô của B. Lúc này, B nói với bà N sẽ thanh toán bằng hình thức chuyển khoản thì bà N đồng ý và kêu B chuyển đến số tài khoản của anh Nguyễn Minh Dương, là con ruột của bà N. B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, màu xanh chuyển đến số tài khoản 050141443817 (Ngân hàng Sacombank) của anh Dương số tiền 8.625 đồng và cho bà N xem nội dung hiển thị trên màn hình điện thoại đã chuyển khoản thành công, Lúc này, B chuẩn bị điều khiển xe bỏ đi thì bị bà N phát hiện chưa thanh toán đủ. B nói không đủ tiền và kêu bà N cùng đi đến bến phà Lộc Giang để lấy tiền, bà N đồng ý. Khi bà N vừa đi vào nhà để khóa cửa, B nhanh chóng điều khiển xe mô tô chở túi xách màu xanh có chứa 400 bao thuốc lá tẩu thoát về hướng khu vực cầu Thầy Cai thuộc huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay là xã Đức Hòa, tỉnh Tây Ninh) để bán số thuốc lá nói trên cho người đàn ông tên Năm (không xác định được nhân thân, lai lịch) được 9.000.000 đồng, B đã tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 12/5/2025, B điều khiển xe mô tô
Future, biển số 70F1-338.79 một mình đi từ nhà đến tiệm tạp hóa (không có biển hiệu) của bà Nguyễn Thị T tại khu phố An Quới, phường Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để hỏi mua thuốc lá điếu nhập lậu số lượng lớn nhưng bà T nói chỉ còn 30 bao. Lúc này, B yêu cầu bà T đem tất cả thuốc lá điếu có tại tiệm cho B xem nên bà T lấy 30 bao thuốc lá điếu loại Jet trắng xếp vào túi nilon màu đen đưa cho B. Sau đó, B không trả tiền mà dùng điện thoại di động của B chụp hình bà T và túi nilon chứa thuốc lá. Lợi dụng lúc bà T sơ hở, B cầm túi nilon màu đen có chứa 30 bao thuốc lá, loại Jet trắng điều khiển xe tẩu thoát về nhà tại ấp An Thạnh, xã An Ninh, tỉnh Tây Ninh. B đã sử dụng hết 30 bao thuốc lá này. Đến ngày 20/5/2025, bà Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị T đến Công an phường An Hòa (nay là phường Trảng Bàng) trình báo sự việc. Quá trình xác minh, làm rõ, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh tiến hành làm việc với Lê Vũ B và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2025 của Hội
đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh kết luận.
- 400 (Bốn trăm) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet, tại thời điểm ngày
12/3/2025 có trị giá là 8.800.000 đồng.
- 30 (Ba mươi) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet, tại thời điểm ngày 12/5/2025
có trị giá là 660.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 937/KL-KTHS ngày 07/6//2025 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Xe mô tô, nhãn hiệu Future, màu đỏ-đen, gắn biển số 70F1-338.79, số khung RLHJC7???????? (số khung bị đục xóa, dấu ? là không xác định số nguyên thủy), số máy bị đục xóa không xác định được số nguyên thủy.
Tại Cáo trạng số: 57/CT-VKSKV12 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 12 - Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Vũ B về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về
tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều
52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Vũ B từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị
cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Ông Lê Văn C (là cha ruột của bị cáo Lê Vũ B) đã
bồi thường cho bà Nguyễn Thị N số tiền 8.800.000 đồng, bà Nguyễn Thị T số tiền 660.000 đồng; các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định
pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian tạm giam, bị cáo đã nhận thức
được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người tham gia tố tụng với tư cách bị hại, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Từ ngày 12/3/2025 đến ngày 12/5/2025,
trên địa bàn phường Trảng Bàng và xã Phước Chỉ, tỉnh Tây Ninh, Lê Vũ B đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản là thuốc lá điếu nhập lậu của các bị hại Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị T với tổng trị giá là 9.460.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm
đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo, phấn đấu trở thành người tốt, sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt có cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện 02 lần hành vi phạm tội nên bị cáo
phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”. Ngoài ra, xét thấy bị cáo có nhân thân xấu có 02 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 1.200 bao đến 1.500 bao”.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo
thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối
với bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Ông Lê Văn C (là cha ruột của bị cáo Lê Vũ B) đã
bồi thường cho bà Nguyễn Thị N số tiền 8.800.000 đồng, bà Nguyễn Thị T số tiền 660.000 đồng; các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu của Nguyễn
Thị N và Nguyễn Thị T đã bị Công an phường Trảng Bàng xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với hành vi của Lê Vũ B đã bán 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu cho
người đàn ông tên “Năm”, hiện không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý hình sự về hành vi “Buôn bán hàng cấm” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Future, màu đỏ-đen, gắn biển số 70F1-
338.79, số khung, số máy không ghi nhận được (đã qua sử dụng) thu của bị cáo xét thấy có liên quan đến vụ án cần tuyên sung quỹ Nhà nước (theo hướng xử lý phụ tùng).
Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, màu xanh, số
Imei: 356714116258621 (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen, số Imei 1: 357332561442746, số Imei2: 347332561942745 (đã qua sử dụng) thu của bị cáo xét thấy có liên quan đến vụ án cần tuyên sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 túi xách màu xanh (đã qua sử dụng), 01 nón bảo hiểm màu đen
(đã qua sử dụng), 01 áo sơ mi sọc caro, màu xám đen (đã qua sử dụng), 01 quần jean lửng, màu xanh (đã qua sử dụng) xét thấy có liên quan đến vụ án nhưng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1
Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Vũ B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/5/2025.
Các biện pháp tư pháp:
Về bồi thường thiệt hại: Ông Lê Văn C (là cha ruột của bị cáo Lê Vũ B) đã
bồi thường cho bà Nguyễn Thị N số tiền 8.800.000 đồng, bà Nguyễn Thị T số tiền 660.000 đồng; các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng
hình sự;
Sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Future, màu đỏ-đen, gắn biển
số 70F1-338.79, số khung, số máy không ghi nhận được (theo hướng xử lý phụ tùng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, màu xanh, số Imei: 356714116258621 (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen, số Imei 1: 357332561442746, số Imei2: 347332561942745 (đã qua sử dụng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách màu xanh (đã qua sử dụng), 01 nón bảo hiểm
màu đen (đã qua sử dụng), 01 áo sơ mi sọc caro, màu xám đen (đã qua sử dụng), 01 quần jean lửng, màu xanh (đã qua sử dụng).
Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - VKSND khu vực 12 -Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh (PV06); - Phòng THADS 12 - Tây Ninh; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Phân trại tạm giam Gia Lộc; - THADS tỉnh Tây Ninh - Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm |