vanban.org

Bản án 102/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chị Kiều Thị H được ly hôn anh Bùi Văn C.

Về con chung: chị Kiều Thị H và anh Bùi Văn C có 01 con chung là: Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 18/6/2020. Sau ly hôn, giao con chung cho chị H là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh C cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chị Kiều Thị H được ly hôn anh Bùi Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
Bản án số: 102/2025/HNGĐ-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 28 tháng 11 năm 2025
(V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi; Bà Nguyễn Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 70/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

*/ Nguyên đơn: Chị Kiều Thị H, sinh năm 2002;

*/ Bị đơn: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1995; Đều có nơi ĐKHKTT: xóm 7, thôn YV, xã HS, thành phố Hà Nội.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, chị Kiều Thị H là nguyên đơn trình bày: chị và anh Bùi Văn C tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã HS, huyện Mỹ Đức (nay là xã HS), thành phố Hà Nội năm 2020. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, anh C không quan tâm gì đến vợ con và gia đình. Anh C có lối sống thường xuyên gây mâu thuẫn với những người xung quanh và đã từng vi phạm pháp luật. Chị nhận thấy đến thời điểm bây giờ con anh chị đã 5 tuổi mà anh C vẫn không thay đổi bản tính và lối sống, việc này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý và nhân cách của con chị. Chị cũng đã hết kiên nhẫn với anh C nên anh chị đã sống ly thân 3 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy chị không còn tình cảm gì với anh C, anh C cũng không có dấu hiệu thay đổi, chị không thể tiếp tục cuộc sống như này nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh C để ổn định cuộc sống mới.

Về con chung: anh chị có 01 con chung: Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 18/6/2020. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Hiện nay chị đang làm lao động tự do về lĩnh vực trang điểm, thu nhập B quân của chị là 12.000.000đồng/tháng. Do là lao động tự do nên chị không có giấy tờ chứng minh thu nhập để nộp cho Toà án.

Về tài sản chung, công nợ chung: không có, chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Bùi Văn C: Không có ý kiến trình bày gì.

Tại biên bản lấy lời khai, ông Bùi Văn B là bố đẻ anh C trình bày: ông là bố đẻ anh Bùi Văn C. Về mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh C cụ thể như nào ông không nắm rõ, tuy nhiên, chị H đã bỏ đi khỏi nhà ông bà khoảng gần 3 năm nay. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh C, quan điểm ông đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết. Chị H và anh C có 01 con chung là cháu Bùi Thị Khánh L, hiện đang ở với chị H và ông bà ngoại.

Anh C – con trai ông, lao động tự do, đi làm tối mới về nhà, có hôm không về, nhưng anh C làm ở đâu cụ thể thì ông không biết. Ông đã thông báo cho anh C biết về việc chị H nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án, nhưng vì công việc bận, lại ở xa nên anh C xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án, xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án. Tòa cứ giải quyết theo pháp luật. Anh C có đăng ký thường trú và sống cùng nhà với ông. Ông nhận trách nhiệm giao lại các văn bản tố tụng của tòa án cho anh C ngay trong ngày. Ông xin vắng mặt các buổi làm việc khác của tòa án, xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án vì việc này không liên quan đến ông bà.

Tại biên bản xác minh tại UBND xã HS, Công an xã HS thể hiện: Về quan hệ hôn nhân: Chị Kiều Thị H, sinh năm 2002 tự nguyện kết hôn với anh Bùi Văn C, sinh năm 1995 tại UBND xã HS, huyện Mỹ Đức (nay là xã HS) thành phố Hà Nội, ngày 19/8/2020; Sau khi kết hôn chị H chuyển về sinh sống tại nhà anh C ở xóm 7, thôn YV, xã HS, thành phố Hà Nội. Về mâu thuẫn vợ chồng chị H anh C cụ thể như nào chính quyền địa phương không nắm được; chỉ biết chị H cùng con đã không sống cùng anh C khoảng 3 năm nay, theo thông tin từ quần chúng nhân dân thì chị H cùng con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, chị H và anh C sống ly thân. Chị H và anh C có 01 con chung: Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 18/6/2020; Nay chị H có đơn xin ly hôn anh C, quan điểm chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về nơi cư trú của anh C: anh C có nơi đăng ký thường trú tại xóm 7, thôn YV, xã HS, thành phố Hà Nội. Anh C sống cùng nhà với bố đẻ là ông Bùi Văn B. Anh C làm nghề lao động tự do, thỉnh thoảng mới về nhà và địa phương.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, các đương sự được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định nhưng không hòa giải được vì lý do bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị H được ly hôn với anh C; giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; anh C không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H cho đến khi có sự thay đổi mới hoặc có đề nghị khác; chị H nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn Toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, ý kiÕn cña c¸c ® ¬ng sù, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

Về tố tụng: chị Kiều Thị H làm đơn ly hôn và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, anh Bùi Văn C là bị đơn có địa chỉ cư trú tại: xóm 7, thôn YV, xã HS, TP. Hà Nội, do đó Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự là đúng thẩm quyền.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh C đến Tòa để hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh C vắng mặt không có lý do; chị H xin vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: chị Kiều Thị H và anh Bùi Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã HS, huyện Mỹ Đức (nay là xã HS) thành phố Hà Nội, ngày 19/8/2020 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị H trình bày là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, anh C không quan tâm gì đến vợ con và gia đình. Anh C có lối sống thường xuyên gây mâu thuẫn với những người xung quanh và đã từng vi phạm pháp luật. Chị nhận thấy đến thời điểm bây giờ con anh chị đã 5 tuổi mà anh C vẫn không thay đổi bản tính và lối sống, việc này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý và nhân cách của con chị. Chị cũng đã hết kiên nhẫn với anh C nên anh chị đã sống ly thân 3 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Chị H cương quyết xin được ly hôn với anh C; anh C không đến Tòa án làm việc trình bày quan điểm.

Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh C và chị H là căng thẳng, có thời gian sống ly thân dài, hôn nhân giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử chấp nhận đơn ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh C và chị H có 01 con chung là Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 18/6/2020. Hiện tại, con chung đang ở với chị H và ông bà ngoại. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung; anh C không đến Toà án trình bày quan điểm. Do đó, để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý, môi trường sống của con chung được ổn định, theo nguyện vọng của đương sự và thực tiễn cuộc sống, HĐXX giao con chung cho chị Kiều Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; chị H không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh C cho đến khi có thay đổi mới hoặc có đề nghị khác là phù hợp với quy định pháp luật.

Về tài sản và công nợ chung: Chị H không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết; anh C không đến Tòa án trình bày quan điểm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết trong bản án này.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị H phải nộp án phí; nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự (năm 2015) và căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự (năm 2015); Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: chị Kiều Thị H được ly hôn anh Bùi Văn C.

2. Về con chung: chị Kiều Thị H và anh Bùi Văn C có 01 con chung là: Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 18/6/2020. Sau ly hôn, giao con chung cho chị H là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh C cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác. Sau ly hôn, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

“Cha, mÑ kh«ng trùc tiÕp nu«i con l¹m dông viÖc th¨m nom ®Ó c¶n trë hoÆc g©y ¶nh h ëng xÊu ®Õn viÖc tr«ng nom, ch¨m sãc, nu«i d ìng, gi¸o dôc con th× ng êi trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn yªu cÇu Toµ ¸n h¹n chÕ quyÒn th¨m nom con cña ng êi ®ã.Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.

3. Về án phí: chị Kiều Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0012120 ngày 16 tháng 10 năm 2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Hà Nội.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã (phường) nơi cư trú đối với người vắng mặt./.

Thành viên Hội đồng xét xử

Cỡ chữ