- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng VPBank - Đào Thị C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Đào Thị C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| KHU VỰC 3 - TÂY NINH Bản án số: 102/2025/DS-ST. Ngày: 14-8-2025. V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Dũng.
Các Hội thẩm Nhân dân:
1. Bà Trần Thị Đổi;
2. Ông Nguyễn Chí Lin.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Còn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 942/2024/TLST-DS, ngày 31 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 212/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V.
Địa chỉ trụ sở: Số 89, Đường Láng H, phường Láng H, quận Đống Đ, Thành phố Hà Nội (nay là Số 89, Đường Láng H, phường Đống Đ, Thành phố Hà Nội).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó giám đốc trung tâm THN KHDN & XLN pháp lý - Theo văn bản ủy quyền số 38a/2024/UQN-CTQT, ngày 01-6-2024; vắng mặt.
Người được ông Đỗ Thành T ủy quyền lại: Ông Phan Văn D1, chức vụ: Cán bộ xử lý nợ - Theo văn bản ủy quyền số 9410/2024/UQ-VPB, ngày 11-10-2024; vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Đào Thị C, sinh năm 1961; địa chỉ: Ấp Thôi M, xã Hòa Khánh Đ1, huyện Đức H1, tỉnh Long An (nay là ấp Thôi M, xã Hòa K, tỉnh Tây Ninh); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11-10-2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V do người đại diện theo ủy quyền ông Phan Văn D1 trình bày:
Bà Đào Thị C có ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V (Ngân hàng VPBank), Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh theo hợp đồng tín dụng số LN2206256078167 ngày 02-7-2022, số tiền vay 388.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng, lãi suất thả nổi, ngày giải ngân 07-7-2022, ngày đến hạn 07-7-2030, mục đích vay để mua xe và hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023, số tiền vay 105.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất thả nổi, ngày giải ngân 13-9-2023, ngày đến hạn 13-9-2028, mục đích vay để tiêu dùng. Theo đó, Ngân hàng VPBank đã cho bà C vay với tổng số tiền 493.000.000 đồng. Để đảm bảo khoản vay, bà C có thế chấp tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu Huyndai, số loại Accent, biển số đăng ký số 62A-310.45, số khung RLUA541BANN080448, số máy G4LCMU625678 thuộc quyền sở hữu của bà Đào Thị C.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các hợp đồng đã ký từ ngày 24-4-2024. Cụ thể, đối với hợp đồng tín dụng số LN2206256078167, ngày 02-7-2022 bà C đã trả được số tiền 152.655.488 đồng, trong đó nợ gốc là 80.330.683 đồng, nợ lãi là 72.324.805; đối với hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023, bà C đã trả được số tiền 13.996.127 đồng, trong đó nợ gốc là 8.750.000 đồng, nợ lãi là 5.246.127 đồng. Theo đơn khởi kiện ngày 11-10-2024, Ngân hàng VPBank yêu cầu:
Buộc bà Đào Thị C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng VPBank tạm tính đến ngày 12-9-2024 tổng số tiền 449.836.000 đồng, trong đó nợ gốc là 403.919.317 đồng, nợ lãi là 45.917.363 đồng. Bà Đào Thị C tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ quá hạn theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LN2206256078167 ngày 02-7-2022 và hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023. Trường hợp, bà Đào Thị C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng VPBank có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng VPBank là xe ô tô con nhãn hiệu Huyndai, số loại Accent, biển số đăng ký số 62A-310.45, số khung RLUA541BANN080448, số máy G4LCMU625678 thuộc quyền sở hữu của bà Đào Thị C.
Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng VPBank đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và chỉ yêu cầu bà Đào Thị C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng VPBank tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 14-8-2025 (ngày xét xử sơ thẩm) là 505.662.097 đồng. Trong đó, nợ gốc là 403.919.317 đồng, nợ lãi là 101.742.780 đồng. Kể từ ngày 15-8-2025, cho đến khi thi hành án xong, bà Đào Thị C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LN2206256078167 ngày 02-7-2022 và hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023. Lãi suất mà bà Đào Thị C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng VPBank sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng VPBank. Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu Huyndai, số loại Accent, biển số đăng ký số 62A-310.45, số khung RLUA541BANN080448, số máy G4LCMU625678 thuộc quyền sở hữu của bà Đào Thị C thì Ngân hàng VPBank thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với yêu cầu này.
Bị đơn bà Đào Thị C trình bày:
Bà Đào Thị C thống nhất theo lời trình bày của ông Phan Văn D1 - người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng VPBank về số tiền vay, tiền lãi và thế chấp tài sản. Nay bà Đào Thị C đồng ý trả số tiền nợ theo yêu cầu của Ngân hàng VPBank và xin miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Đào Thị C. Buộc bà Đào Thị C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng VPBank tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 14-8-2025 là 505.662.097 đồng. Trong đó, nợ gốc là 403.919.317 đồng, nợ lãi là 101.742.780 đồng. Kể từ ngày 15-8-2025, cho đến khi thi hành án xong, bà Đào Thị C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LN2206256078167 ngày 02-7-2022 và hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023. Lãi suất mà bà Đào Thị C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng VPBank sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng VPBank.
- Về án phí: Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với bà Đào Thị C do bà Đào Thị C là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng VPBank không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng VPBank 10.996.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V (Ngân hàng VPBank) và bà Đào Thị C tranh chấp hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Đào Thị C là bị đơn, có hộ khẩu thường trú tại ấp Thôi M, xã Hòa Khánh Đ1, huyện Đức H1, tỉnh Long An (nay là ấp Thôi M, xã Hòa K, tỉnh Tây Ninh) nên Tòa án nhân dân huyện Đức H1, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh) thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2015/QH15, ngày 25-6-2025 của Quốc Hội.
Về thủ tục tố tụng: Ông Phan Văn D1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bà Đào Thị C là bị đơn, vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hợp đồng tín dụng số LN2206256078167 ngày 02-7-2022; hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023 và hợp đồng thế chấp số LN2206256078167 ngày 02-7-2022 giữa Ngân hàng VPBank và bà Đào Thị C được ký kết trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các bên, bảo đảm điều kiện về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên là hợp đồng hợp pháp, có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
Đối chiếu với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thể hiện: Bà C vay của Ngân hàng VPBank tổng số tiền là 493.000.000 đồng, cụ thể theo hợp đồng tín dụng số LN2206256078167 ngày 02-7-2022, số tiền vay 388.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng, lãi suất thả nổi, ngày giải ngân 07-7-2022, ngày đến hạn 07-7-2030, mục đích vay để mua xe và hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023, số tiền vay 105.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất thả nổi, ngày giải ngân 13-9-2023, ngày đến hạn 13-9-2028, mục đích vay để tiêu dùng. Để đảm bảo khoản vay, bà C có thế chấp tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu Huyndai, số loại Accent, biển số đăng ký số 62A-310.45, số khung RLUA541BANN080448, số máy G4LCMU625678 thuộc quyền sở hữu của bà C.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các hợp đồng đã ký từ ngày 24-4-2024. Cụ thể, đối với hợp đồng tín dụng số LN2206256078167, ngày 02-7-2022 bà C đã trả được số tiền 152.655.488 đồng, trong đó nợ gốc là 80.330.683 đồng, nợ lãi là 72.324.805; đối với hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023, bà C đã trả được số tiền 13.996.127 đồng, trong đó nợ gốc là 8.750.000 đồng, nợ lãi là 5.246.127 đồng.
Nay Ngân hàng VPBank yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng VPBank tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 14-8-2025 (ngày xét xử sơ thẩm) là 505.662.097 đồng. Trong đó, nợ gốc là 403.919.317 đồng, nợ lãi là 101.742.780 đồng. Bà C đồng ý trả số nợ trên cho Ngân hàng VPBank, được Hội đồng xét xử ghi nhận và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank.
Kể từ ngày 15-8-2025, cho đến khi thi hành án xong, bà C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LN2206256078167 ngày 02-7-2022 và hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023. Lãi suất mà bà Cấp phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng VPBank sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng VPBank.
Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu Huyndai, số loại Accent, biển số đăng ký số 62A-310.45, số khung RLUA541BANN080448, số máy G4LCMU625678 thuộc quyền sở hữu của bà C thì Ngân hàng VPBank thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với yêu cầu này nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với bà Đào Thị C do bà Đào Thị C là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng VPBank không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng VPBank 10.996.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2015/QH15, ngày 25-6-2025 của Quốc Hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Đào Thị C.
1.1. Buộc bà Đào Thị C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 14-8-2025 là 505.662.097 đồng (năm trăm lẻ năm triệu, sáu trăm sáu mươi hai nghìn, không trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, nợ gốc là 403.919.317 đồng (bốn trăm lẻ ba triệu, chín trăm mười chín nghìn, ba trăm mười bảy đồng), nợ lãi là 101.742.780 đồng (một trăm lẻ một triệu, bảy trăm bốn mươi hai nghìn, bảy trăm tám mươi đồng).
1.2. Kể từ ngày 15-8-2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Đào Thị C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LN2206256078167 ngày 02-7-2022 và hợp đồng tín dụng số LN2309110219352 ngày 13-9-2023. Lãi suất mà bà Đào Thị C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với bà Đào Thị C do bà Đào Thị C là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh V 10.996.000 đồng (mười triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006152 ngày 24-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức H1, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Tây Ninh).
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 3 - Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Đức Dũng |