- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Ngọc D - Đào Ngọc S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc D được ly hôn anh Đào Ngọc S.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-12-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tâm
Ông Nguyễn Văn Quyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 135/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc D, nơi đăng ký thường trú: Thôn PT1, xã HT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn AB, xã DT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đào Ngọc S; nơi cư trú: Thôn PT1, xã HT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phạm Ngọc D trình bày:
Chị và anh Đào Ngọc S kết hôn với nhau tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã HT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng từ ngày 18-01-2018. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung. Bản thân chị đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn và được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không đạt kết quả. Từ đầu năm 2024 đến nay, chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Đào Ngọc S.
- Về con chung: Chị và anh Đào Ngọc S có 02 con chung là Đào Gia Bảo, sinh ngày 26-6-2020 và Đào Gia Long, sinh ngày 26-6-2020. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung Đào Gia Long cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Đào Gia Bảo cho anh Đào Ngọc S trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và các vấn đề khác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đào Ngọc S, anh Đào Ngọc S không cung cấp lời khai, không đến Tòa án hòa giải và giải quyết việc ly hôn với chị Phạm Ngọc D. Tòa án đã tiến hành xác minh về mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương nơi chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S sinh sống cư trú.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phạm Ngọc D được ly hôn anh Đào Ngọc S; về con chung: Giao cho chị Phạm Ngọc D trực tiếp nuôi con Đào Gia L, sinh ngày 26-6-2020; giao cho anh Đào Ngọc S trực tiếp nuôi con Đào Gia B, sinh ngày 26-6-2020. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không phải xem xét giải quyết. Về tài sản chung, các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Ngọc D là nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định tại các điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Phạm Ngọc D có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng giải quyết ly hôn với anh Đào Ngọc S cư trú tại xã HT, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử, anh Đào Ngọc S đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh Đào Ngọc S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng. Chị Phạm Ngọc D có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các điều 227, điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc D thấy: Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, không còn quan tâm tới nhau. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ tại nơi chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S cư trú xác định: Chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S xảy ra mâu thuẫn, gia đình hai bên đã hòa giải, khuyên bảo nhiều lần nhưng không thành, mâu thuẫn giữa chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S ngày càng trầm trọng. Hiện tại, vợ chồng đã sống ly thân, chị Phạm Ngọc D đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Chị Phạm Ngọc D làm đơn xin ly hôn anh Đào Ngọc S, Tòa án đã thông báo cho các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng anh Đào Ngọc S không có mặt để hòa giải và cũng không có đề nghị hay có giải pháp gì để vợ chồng hòa giải đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Phạm Ngọc D về việc xin ly hôn anh Đào Ngọc S là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.
Về con chung: Chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S có hai con chung là 02 con chung là Đào Gia B, sinh ngày 26-6-2020 và Đào Gia L, sinh ngày 26-6-2020. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S đều có đủ điều kiện đảm bảo về vật chất và tinh thần để nuôi con chung. Vì vậy, đề nghị của chị Phạm Ngọc D về việc giao cho chị nuôi con Đào Gia L, giao cho anh Đào Ngọc S nuôi con Đào Gia B là phù hợp với pháp luật, với thực tế, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chung; phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do các đương sự không yêu cầu nên không phải xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Ngọc D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 207, 227, 228, 238, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Ngọc D được ly hôn anh Đào Ngọc S.
2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Ngọc D trực tiếp nuôi con chung Đào Gia L, sinh ngày 26-6-2020; giao cho anh Đào Ngọc S trực tiếp nuôi con chung Đào Gia B, sinh ngày 26-6-2020 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chị Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
4. Về án phí: Chị Phạm Ngọc D phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0009442 ngày 11 tháng 10 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Ngọc D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Phạm Ngọc D và anh Đào Ngọc S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Vĩnh Bảo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo; - UBND xã HT (ĐKKH số 03/2018); - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |