vanban.org

Bản án 102/2024/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019;
  • Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/DSST
Ngày: 18 – 7 – 2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Til

2. Bà Trần Thị Minh Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2024/TLST-DS ngày 03 tháng4 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 (Có mặt)

Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận Bì, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1958 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày và yêu cầu:

Vào ngày 17/01/2023, ông Lê Văn S có vay của ông số tiền 290.000.000 đồng, thời hạn vay 3 tháng, từ ngày 17/01/2023 đến ngày 17/4/2023, lãi suất thỏa thuận 4%/tháng. Hai bên có làm biên nhận và thống nhất ký tên. Tuy nhiên đến hạn trả tiền ông S không trả tiền và hứa hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện.

Nay ông yêu cầu ông Lê Văn S trả tiền gốc 290.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất Nhà nước quy định là 1,66%/tháng kể từ ngày 17/01/2023 đến ngày 17/12/2023 là 11 tháng, tương đương số tiền 290.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 11 tháng = 52.954.000 đồng và tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn vắng mặt.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay và tiễn lãi nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét “Giấy biên nhận vay tiền ngày 17/01/2023” có nội dung ông Lê Văn S vay của ông Nguyễn Văn T số tiền 290.000.000 đồng, thời hạn vay 3 tháng, từ ngày 17/01/2023 đến ngày 17/4/2023, lãi suất thỏa thuận 4%/tháng, mục đích vay cho con làm vốn mua bán. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Lê Văn S tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Lê Văn S vắng mặt và không có văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên xem như ông S đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, có căn cứ xác định ông Nguyễn Văn T và ông Lê Văn S có thỏa thuận vay tiền có lãi suất theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự. Theo quy định tại Điều 280 và khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự thì ông Lê Văn S đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền như thỏa thuận. Ông T yêu cầu ông S có trách nhiệm trả số tiền gốc và tiền lãi phát kể từ ngày 17/01/2023 đến xét xử sơ thẩm (ngày 18/7/2024) là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông T có ý kiến thời gian tính lãi làm tròn 18 tháng. Đây là sự tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xét thỏa thuận của ông T, ông S về lãi suất 4%/ tháng, tương đương 48%/ năm là trái với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu áp dụng lãi suất theo quy định pháp luật là 1,66%/ tháng, tương đương 19,92%/ năm là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Số tiền lãi ông Lê Văn S có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn T kể từ ngày 17/01/2023 đến ngày 18/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là: 290.000.000 đồng x 1,66%/ tháng x 18 tháng = 86.652.000 đồng.

Từ những nhận định trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần buộc ông Lê Văn S trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền gốc 290.000.000 đồng và tiền lãi 86.652.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn là người cao tuổi, coa đơn xin miễn nộp án phí, thuộc trường hợp được miễn nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019;

Điều 280; Điều 463; khoản 1 và 5 Điều 466; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

2. Buộc ông Lê Văn S trả cho ông Nguyễn Văn T tổng số tiền 376.652.000 đồng (Ba trăm bảy mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn đồng), trong đó tiền gốc 290.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi triệu đồng), tiền lãi 86.652.000 đồng (Tám mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Văn S được miễn nộp án phí sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn T được nhận lại 8.573.000 đồng (Tám triệu năm trăm bảy mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0007609 ngày 27/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ