vanban.org

Bản án 102/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Đức T 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 07/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đoàn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HS-ST
Ngày: 14/7/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG – TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Kim Chi

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Long Văn Thanh

2. Ông Luân Văn Lý

- Thư ký phiên toà: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 7 năm 2023 Tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2023/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Đoàn Đức T (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 8 năm 1974 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ 12, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Nùng; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, chính quyền đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đoàn X; Con bà: Đinh Thị T; Anh, chị em ruột: Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 04 anh chị em; Vợ: Đàm Thị X; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/12/2004 bị Công an tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 15/11/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 26/5/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 21/5/2014, bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 07/3/2023 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị T - sinh năm 1997;

Địa chỉ: Tổ 12, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 19 giờ 20 phút ngày 07/3/2023, tại khu vực tổ 07, phường T, thành phố Cao Bằng, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế

- ma túy Công an thành phố Cao Bằng bắt quả tang Đoàn Đức T (sinh năm 1974; trú tại: Tổ 12, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ 01 gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 03 gói giấy bạc màu trắng đều chữa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột, có khối lượng 0,19 gam, thu trong túi quần đằng trước bên trái chiếc quần Toàn đang mặc, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA XAVE S màu đen, biển kiểm soát 12T1 - 021.66, xe cũ đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ NOKIA, có số seri: 355914052124875, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Ngày 08/3/2023, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 84 đối với vật chứng của vụ án. Tại kết luận giám định số 142/KL-KTHS ngày 15/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Mẫu chất bột màu trắng bên trong 01 phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine".

Quá trình điều tra đủ căn cứ để xác định: Khoảng 19 giờ ngày 07/3/2023, Đoàn Đức T gọi điện thoại cho Phạm Xuân T (sinh ngày 26/01/1977; trú tại: tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) để hỏi mua 500.000 Heroine sử dụng cho bản thân. T đồng ý và hẹn Toàn đến nhà T để trao đổi mua bán. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE S biển kiểm soát 12T1 - 021.66 từ nhà đi đến nhà T. Khi đến cổng nhà T, T đưa cho T số tiền 500.000đ, T nhận tiền rồi đi vào trong nhà, khoảng 5 phút rồi quay ra đưa cho T 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 03 gói giấy bạc màu trắng đều chứa Heroine. T cầm gói ma túy cho vào túi đằng trước bên trái chiếc quần đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực nghĩa trang thuộc tổ 07, phường T, thành phố Cao Bằng tìm nơi sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Cao bằng bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Tại bản cáo trạng số: 96/CT - VKSTP, ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Đoàn Đức T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đoàn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt và tại bản khai tại cơ quan điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị T xác nhận: Ngày 07/3/2023, Toàn có hỏi mượn xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S biển kiểm soát 12T1 - 021.66 của bà để đi có việc, bà không biết Toàn đã sử dụng xe đi mua ma túy và không cho phép. Nay cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã xác minh làm rõ và trả lại xe cho bà nên bà không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đoàn Đức T. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đoàn Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo Đoàn Đức T từ 18 - 21 tháng tù, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi số 142/KL-KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Đoàn Đức T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kèm Kết luận giám định ma túy số 142/KL-KTHS ngày 15/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng; 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ NOKIA, có số seri: 355914052124875, điện thoại cũ đã qua sử dụng, vì đây là vật chứng nhà nước cấm lưu hành, vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Về án phí, đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Toàn đã khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy Heroine của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được bị cáo Đoàn Đức T là người nghiện ma túy, hồi 19 giờ 20 phút ngày 07/3/2023 tại khu vực tổ 07, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao Bằng đã bắt quả tang Đoàn Đức T có hành vi tàng trữ trái phép 0,19 gam heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Đoàn Đức T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự

"Điều 249 .Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

...

c). Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-

11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d). ..."

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Đoàn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Heroine là dạng ma túy Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt và sử dụng trái phép nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm mục đích phục vụ bản thân, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đoàn Đức T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 30/12/2004 bị Công an tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 15/11/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 26/5/2009 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 21/5/2014 bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đoàn Đức T là người có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần đi chấp hành án về tội phạm ma túy, trở về địa phương bị cáo không tu chí làm ăn, mà tiếp tục sa đà vào sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, ngăn ngừa bị cáo tiếp tục phạm tội, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã gây ra, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian tiếp tục suy nghĩ, cải tạo bản thân, từ đó, nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi số 142/KL-KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Đoàn Đức T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kèm Kết luận giám định ma túy số 142/KL-KTHS ngày 15/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng; 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ NOKIA, có số seri: 355914052124875, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Đây là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành, vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với Phạm Xuân T là người được T khai là đã bán ma túy cho T, nhưng qua khám xét người và chỗ ở của T cơ quan Công an không thu được gì liên quan đến ma túy. T không thừa nhận việc bán ma túy cho T, việc mua bán ma túy giữa T và T không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý hành vi bán trái phép chất ma túy của Phạm Xuân T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đoàn Đức T.

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Đức T 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 07/3/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi số 142/KL-KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Đoàn Đức T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kèm Kết luận giám định ma túy số 142/KL-KTHS ngày 15/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng; 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ NOKIA, có số seri: 355914052124875, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số 123 ngày 13/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Đoàn Đức T phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước

Về thực hiện quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 14/7/2023. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được biêm yết.

Cỡ chữ