vanban.org

Bản án 102/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 15/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng : Điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (áp dụng thêm đối với bị cáo N điểm p khoản 1 Điều 51) điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 47, 38, 58 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự N 2015;…

Tuyên bố các bị cáo : Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H đều phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt : Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Năm và đồng phạm phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng : Điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (áp dụng thêm đối với bị cáo N điểm p khoản 1 Điều 51) điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 47, 38, 58 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự N 2015;…
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Dân sự N; Điều 136 Bộ luật Dân sự N; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HS-ST
Ngày 12/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Đặng Viết Hùng ;

Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Toà án nhân dân Hện Ứng Hoà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 N 2023 tại Trụ sở toà án nhân dân Hện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 109/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 N 2023 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN VĂN N, sinh N 1998; nơi sinh và cư trú : Xóm Mới, xã Phượng Vĩ, Hện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; giới tính : Nam; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; trình độ học vấn : 12/12; nghề nghiệp : Lao động tự do; con ông : Nguyễn Văn Dé, sinh N 1962; con bà : Nguyễn Thị Bài, sinh N 1963; vợ, con : Chưa có; tiền án, tiền sự : Không; bị cáo bị tạm tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến nay, tại trại tạm giam số 2 – Công an thánh phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

2. NGUYỄN QUANG H, sinh N 2003; nơi sinh và cư trú : Tổ 2, phường Thanh Tuyền, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; giới tính : Nam; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; trình độ học vấn : 12/12; nghề nghiệp : Sinh viên; con ông : Nguyễn Văn Tân, sinh N 1972; con bà : Nguyễn Thị Nga, sinh N 1977; vợ, con : Chưa có; tiền án, tiền sự : Không; bị cáo bị tạm tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến nay, tại trại tạm giam số 2 – Công an thánh phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

1. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N : Bà Đinh Thị Mai Phương – Là trợ giúp viên pháp lý, thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hà Nội, có mặt.

2. Những người bị hại :

- Chị Nguyễn Thị N, sinh N 1994; trú tại : Thôn Đống Vũ, xã Trường Thịnh, Hện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, vắng mặt;

- Chị Nguyễn Thị Kim Dung, sinh N 1993; trú tại : Khu 5, thị Trấn Dạng Đông, Hện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, vắng mặt;

- Chị Nguyễn Thị Thắm, sinh N 1988; trú tại : Thôn Sơn Phú, xã Cao Sơn, Hện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, vắng mặt;

- Chị Triệu Thị Chúc, sinh N 1991; trú tại : Thôn Thanh Chung, xã Tây Yên Tử, Hện Sơn Đông, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt;

3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

- Chị Bùi Thị Hoài Thương, sinh N 1994; trú tại : Số nhà 31, ngách 299/56, đường Hoàng Mai, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội, vắng mặt;

- Ông Nguyễn Văn Tân, sinh N 1972; trú tại : Tổ 2, Thanh Tuyền, Phú Nghĩa, Hà Nam, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Văn N (sinh N 1998, trú tại xóm Mới, xã Phượng Vĩ, Hện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ), nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách dùng tài khoản Facebook có tên “Hoài Nam” truy cập vào các nhóm liên quan đến ly hôn trên Facebook, tiến hành bình luận, tự nhận là cán bộ tòa án có thể tư vấn, giúp các đương sự giành được quyền nuôi con nhằm tạo sự tin tưởng để chiếm đoạt tài sản. N rủ Nguyễn Quang H, (sinh N 2003, trú tại tổ 2, phường Thanh Tuyền, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) cùng tham gia và thống nhất với H là khi có đối tượng thì H sẽ chở N đi, đồng thời H sẽ phối hợp cùng N đóng giả là cán bộ Tòa án để tạo sự tin tưởng, sau khi lừa lấy được tài sản thì N sẽ chia một phần cho H.

Qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Văn N làm quen được với chị Trần Thị N, (sinh N 1994, trú tại thôn Đống Vũ, xã Trường Thịnh, Hện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội) đang muốn giành quyền nuôi con. N giới thiệu bản thân tên là Nam, hiện đang công tác tại Tòa án nhân dân Hện Ứng Hòa có thể giúp được chị N giành được quyền nuôi con và hẹn gặp chị N vào sáng ngày 11/9/2023 để tư vấn. Đến ngày hẹn, N điều khiển xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 29H2-323.40, H điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 90B1-955.39 đi đến thị trấn Vân Đình. Đến nơi, N gọi điện cho chị N bảo đến quán Cafe Royal ở phố Lê Lợi, thị trấn Vân Đình, Hện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Tại đây, Nguyễn Văn N và H phối hợp giả danh là đồng nghiệp làm ở Tòa án nhân dân Hện Ứng Hòa, Nguyễn Văn N yêu cầu chị Trần Thị N đưa cho N số tiền 12.000.000 đồng và hứa sẽ giúp chị N giành được quyền nuôi con. Chị N tin tưởng nên đã đưa tiền cho N. Sau khi chiếm đoạt được 12.000.000 đồng, N nói sẽ chia cho H 1.000.000 đồng, nhưng vì bận việc nên H chưa lấy, nên số tiền này N đã tiêu xài cá nhân hết.

Chị N sau khi đưa tiền, đã nhiều lần liên lạc với N để hỏi xem kết quả giải quyết vụ việc nhưng đều không liên lạc được, biết bản thân bị lừa nên chị N đã đến Công an thị trấn Vân Đình trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tin báo do Công an thị trấn Vân Đình cHển đến, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Hện Ứng Hòa tiến hành kiểm tra, xác minh, triệu tập Nguyễn Văn N, Nguyễn Quang H đến trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, N và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên đã thực hiện ở thị trấn Vân Đình vào ngày 11/9/2023. Ngoài ra N, H còn khai nhận trước đó vào tháng 8/2023 cũng bằng thủ đoạn tương tự, N và H đã cùng nhau 03 lần thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác ở trên địa bàn Hện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; Hện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và Hện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:

Lần 1: Bằng phương thức, thủ đoạn như trên, Nguyễn Văn N sử dụng tài khoản Facebook có tên “Hoài Nam” truy cập vào các nhóm liên quan đến ly hôn thì thấy bài đăng của chị Vũ Thị Kim Dung, (sinh N 1993, trú tại thị trấn Rạng Đông, Hện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định), có nội dung về việc tìm người tư vấn luật liên quan đến giành quyền nuôi con. N nhắn tin cho chị Dung, giới thiệu bản thân tên là Nam - cán bộ Tòa án nhân dân Hện Nghĩa Hưng, đang thụ lý hồ sơ ly hôn của chị Dung. Qua nói cHện, N hứa có thể giúp chị Dung giành được quyền nuôi con, N hẹn gặp chị Dung vào ngày 04/8/2023. Sau đó, N liên lạc rủ H tham gia. Đầu giờ chiều ngày 04/8/2023, H điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 90B1-955.39 chở N đến quán Cafe tại thị trấn Liễu Đề, Hện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, rồi H tiếp tục đi đón chị Dung đang đứng chờ ở cổng trụ sở Tòa án nhân dân Hện Nghĩa Hưng tới quán Cafe. Tại đây, N, H đều giới thiệu là cán bộ Tòa án nhân dân Hện Nghĩa Hưng, N yêu cầu chị Dung đưa cho N số tiền 12.000.000 đồng làm lệ phí giành quyền nuôi con. Do tin tưởng, nên chị Dung đã đưa cho N số tiền trên. Sau khi chiếm đoạt được 12.000.000 đồng, N dùng một phần tiền để ăn uống và đổ xăng xe, chia cho H 1.000.000 đồng, số còn lại N cầm. Số tiền chiếm đoạt được N, H đã tiêu xài cá nhân hết.

Lần 2: Đầu tháng 8/2023, chị Đinh Thị Thắm, (sinh N 1988, trú tại tại xóm Sơn Phú, xã Cao Sơn, Hện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình), có đăng 01 bài viết trên nhóm Facebook “Hội luật sư Hòa Bình” với nội dung “cần một luật sư khu vực Hòa Bình giải quyết vấn đề ly hôn”. Nguyễn Văn N sử dụng Facebook có tên “Hoài Nam” truy cập vào các nhóm liên quan đến ly hôn thì thấy bài đăng của chị Thắm nên đã chủ động nhắn tin cho chị Thắm và tự giới thiệu bản thân tên là Nam, chức vụ Phó chánh Tòa án nhân dân Hện Đà Bắc, đang thụ lý hồ sơ ly hôn của chị Thắm, có thể giúp chị Thắm giành được quyền nuôi con với chi phí 15.000.000 đồng. Chị Thắm tin tưởng nên đã nói cHện, nhờ N giúp đỡ. N hẹn gặp trực tiếp chị Thắm ngày 15/8/2023 để tư vấn, chị Thắm đồng ý. Sáng ngày 15/8/2023, H điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 90B1-955.39 chở N đến quán Cafe tại thị trấn Đà Bắc, Hện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. N gọi điện bảo chị Thắm đến quán. Tại đây, N, H đều giới thiệu là cán bộ Tòa án nhân dân Hện Đà Bắc, rồi N hướng dẫn chị Thắm làm hồ sơ, đồng thời yêu cầu chị Thắm đưa 15.000.000 đồng làm chi phí giải quyết ly hôn và giành quyền nuôi con. Chị Thắm tin tưởng nên đã giao tiền cho N. Số tiền chiếm đoạt được, N sử dụng một phần vào ăn uống và đổ xăng xe, chia cho H 200.000 đồng, số còn lại N cầm. H và N hiện tại đã tiêu hết số tiền này.

Lần 3: Cũng trong tháng 8/2023, chị Triệu Thị Chúc, (sinh N 1991, trú tại thôn Thanh Chung, xã Tây Yên Tử, Hện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang), truy cập vào mạng xã hội Facebook, đăng bài viết trong nhóm liên quan đến ly hôn với nội dung nhờ tư vấn thủ tục, hồ sơ giành quyền nuôi con. Nguyễn Văn N sử dụng Facebook có tên “Hoài Nam” truy cập vào các nhóm liên quan đến ly hôn thì thấy bài đăng của chị Chúc, nên đã nhắn tin làm quen và tự giới thiệu bản thân là Nam, làm ở Tòa án nhân dân Hện Sơn Động, hiện đang thụ lý hồ sơ ly hôn của chị Chúc. Chị Chúc kết bạn Zalo với N và nhờ N giúp đỡ giành quyền nuôi con. Sau đó, N lên lịch hẹn gặp trực tiếp chị Chúc ngày 30/8/2023. N rủ H tham gia đóng giả là cán bộ Tòa án để hỗ trợ N thực hiện hành vi phạm tội. Sáng 30/8/2023, H điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 90B1-955.39 chở N đến quán Cafe Trúc Quỳnh, tại thị trấn An Châu, Hện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, rồi N gọi điện cho chị Chúc đến quán. Khi chị Chúc đến quán Cafe thì H đang nằm ngủ ở trên ghế, còn N nói cHện với chị Chúc. Tại đây, chị Chúc đưa cho N số tiền 12.000.000 đồng làm lệ phí giành quyền nuôi con. Sau khi chiếm đoạt được tiền, N sử dụng một phần tiền để ăn uống và đổ xăng xe, chia cho H 800.000 đồng, số còn lại N cầm. Tiền chiếm đoạt được N, H đã tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Nguyễn Quang H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng xám, biển kiểm soát 90B1-955.39; 01 đăng ký xe số 010711 đối với xe mô tô, biển kiểm soát 90B1-955.39, mang tên chủ xe là Trần Văn Nghĩa; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, không mở được nguồn; 01 điện thoại xiaomi redmi note 7 màu đen, loại 64 GB, số IMEI 1: 864753042030006, số IMEI 2: 864753042110006 lắp sim Mobifone số 0896016081.

- Thu giữ của Nguyễn Văn N: 01 điện thoại Iphone 14 promax màu tím số IMEI: 353997896215972, bên trong lắp sim Viettel số 0986371081; các bản sao liên quan đến các giấy tờ N nhận của những người bị hại gồm {01 căn cước công dân, giấy chứng nhận kết hôn của chị Vũ Thị Kim Dung, 01 giấy khai sinh Trần Vũ Hải Đăng (con chị Dung); 01 căn cước công dân, 01 giấy chứng nhận kết hôn của chị Đinh Thị Thắm, 01 giấy khai sinh của Đinh Lan Trà My (con chị thắm); 01 giấy chứng nhận kết hôn của chị Triệu Thị Chúc, 01 giấy khai sinh của Bàn Trung Phát (con chị Chúc); 01 đơn kháng của của chị Trần Thị N} và 01 đăng ký xe số 012061 đối với xe mô tô, biển kiểm soát 29H2-323.40, mang tên chủ xe là Bùi Thị Hoài Thương.

- Tạm giữ của chị Bùi Thị Hoài Thương: 01 xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 29H2-323.40 màu đỏ đen bạc, số khung RLHJK0305MY044416, số máy JK03E0050547.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 109/CT - VKS ngày 20/11/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Hện Ứng Hoà truy đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H về tội : “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà :

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên;

- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo như sau :

Về tội danh và mức hình phạt : Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 (áp dụng thêm đối với bị cáo N điểm p khoản 1 Điều 51); Điều 38 của Bộ luật hình sự :Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H phạm tội : Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù. Xử phạt Nguyễn Quang H từ 24 tháng tù đến 26 tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù đối với cả 02 bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 18/9/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự : Xác nhận những người bị hại đã nhận số tiền bồi thường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không giải quyết trong vụ án.

Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước :

Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước : 01 điện thoại Iphone 14 promax màu tím số IMEI: 353997896215972, bên trong lắp sim viettel số 0986371081 tạm giữ của Nguyễn Văn N

Trả lại bị cáo Nguyễn Quang H 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, không mở được nguồn; 01 điện thoại xiaomi redmi note 7 màu đen, loại 64 GB, số IMEI 1: 864753042030006, số IMEI 2: 864753042110006 lắp sim mobifone số 0896016081 (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan công an cHển đến Chi cục Thi hành án dân sự Hện Ứng Hoà ngày 06/12/2023).

Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 : Buộc bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo; những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo bà Đinh Thị Mai Phương trình bày luận cứ bào chữa : Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo nên Viện kiểm sát nhân dân Hện Ứng Hòa truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ điểm b, s , p khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn N thấp hơn mức thấp nhất mà viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, những người làm chứng, người tham gia tố tụng khác .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Về tố tụng : Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên Hện Ứng Hòa đều đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung : Tại cơ quan điều tra cũng như phiên tòa các bị cáo nhận tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Ứng Hòa đã nêu; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, lời khai bị cáo này là chứng cứ buộc tội bị cáo phác và ngược lại, phù hợp với lời khai của những người bị hại; người làm chứng; vật chứng thu giữ được, phù hợp với những tài liệu khác được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận : Từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2023, Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H đã 04 lần cùng nhau dùng thủ đoạn gian dối, giả danh là cán bộ Tòa án có thể tư vấn giúp các đương sự trong vụ án ly hôn giành được quyền nuôi con, nhằm tạo sự tin tưởng, chiếm đoạt tài sản của nhiều người, cụ thể: ngày 04/8/2023, tại thị trấn Liễu Đề, Hện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định chiến đoạt 12.000.000 đồng của chị Vũ Thị Kim Dung; ngày 15/8/2023 tại thị trấn Đà Bắc, Hện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình chiếm đoạt của chị Đinh Thị Thắm 15.000.000 đồng; ngày 30/8/2023 tại thị trấn An Châu, Hện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang chiếm đoạt của chị Triệu Thị Chúc 12.000.000 đồng và ngày 11/9/2023 tại thị trấn Vân Đình, Hện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội chiếm đoạt của chị Trần Thị N 12.000.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H đã chiếm đoạt được là 51.000.000 đồng.

Về tội danh: Hành hành vi như đã nêu trên của Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự thì bị cáo đã phạm vào tội : Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vi phạm điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự, do đó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Hện Ứng Hoà truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản luật áp dụng như nêu trong bản Cáo trạng là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét về tính chất : Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội, đủ để cải tạo bị cáo và răn đe phòng người tội phạm. Mặt khác cũng để ổn định tình hình chính trị ở địa phương.Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết : Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động đến gia đình đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho các bị hai nên tất cả những người bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; về tình tiết tăng nặng các bị cáo phạm tội trong trường hợp “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xét thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn các bị cáo không có sự phân công nhưng tiếp nhận ý chí để thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều là người thực hành, nhưng Nguyễn Văn N giữ vai trò chính, là người rủ rê, lôi kéo Nguyễn Quang H phạm tội nên N phải áp dụng mức hình phạt cao hơn H là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung : Hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn nên tòa không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 29H2-323.40 và giấy đăng ký xe số 012061 đối với xe mô tô 29H2-323.40, quá trình điều tra xác định là của chị Bùi Thị Hoài Thương cho N mượn để đi lại; chị Thương không biết việc N sử dụng xe vào việc phạm tội, nên ngày 31/10/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại xe này cùng giấy đăng ký xe cho chị Thương là có căn cứ.

Đối với xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 90B1-955.39 và 01 đăng ký xe số 010711 đối với xe mô tô 90B1-955.39, mang tên chủ xe là Trần Văn Nghĩa. Quá trình điều tra xác định xe này là của ông Nguyễn Văn Tân, bố đẻ của H mua lại của vợ chồng anh Trần Văn Nghĩa, sau đó ông Tân đưa xe cho H mượn để đi lại hàng ngày. Ông Tân không biết việc H sử dụng xe vào việc phạm tội. Xe mô tô này không phải là vật chứng trong vụ án, vụ việc nào. Ngày 31/10/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy này cùng giấy đăng ký xe cho ông Tân là có căn cứ.

Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước : 01 điện thoại Iphone 14 promax màu tím số IMEI: 353997896215972, bên trong lắp sim viettel số 0986371081 tạm giữ của Nguyễn Văn N.

Trả lại bị cáo Nguyễn Quang H 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, không mở được nguồn; 01 điện thoại xiaomi redmi note 7 màu đen, loại 64 GB, số IMEI 1: 864753042030006, số IMEI 2: 864753042110006 lắp sim mobifone số 0896016081.

Về trách nhiệm dân sự : Các bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện hoàn trả cho các bị hại số tiền 51.000.000 đồng đã chiếm đoạt, cụ thể (trả cho chị Dung 12.000.000 đồng, trả chị Thắm 15.000.000 đồng, trả chị Chúc 12.000.000 đồng, trả chị N 12.000.000 đồng). Những người bị hại đã nhận đủ, không thắc mắc đề nghị gì và đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Về án phí, quyền kháng cáo : Theo Điều 135;136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 N 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo, những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng : Điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (áp dụng thêm đối với bị cáo N điểm p khoản 1 Điều 51) điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 47, 38, 58 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự N 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 N 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố các bị cáo : Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H đều phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt :

- Xử phạt Nguyễn Văn N 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 18/9/2023);

- Xử phạt Nguyễn Quang H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 18/9/2023);

3. Về trách nhiệm dân sự : Xác nhận : Chị Vũ Thị Kim Dung đã nhận lại số tiền 12.000.000 đồng; Đinh Thị Thắm đã nhận số tiền 15.000.000 đồng; chị Triệu Thị Chúc đã nhận số tiền 12.000.000 đồng, chị Trần Thị N đã nhận số tiền 12.000.000 đồng. Những người bị hại đã nhận lại số tiền, không thắc mắc đề nghị gì.

4. Về xử lý vật chứng : Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước : 01 điện thoại Iphone 14 promax màu tím số IMEI: 353997896215972, bên trong lắp sim viettel số 0986371081 tạm giữ của Nguyễn Văn N

Trả lại bị cáo Nguyễn Quang H 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, không mở được nguồn; 01 điện thoại xiaomi redmi note 7 màu đen, loại 64 GB, số IMEI 1: 864753042030006, số IMEI 2: 864753042110006 lắp sim mobifone số 0896016081 (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan công an cHển đến Chi cục Thi hành án dân sự Hện Ứng Hoà ngày 06/12/2023).

4. Về án phí : Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Quang H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo : Bị cáo; những người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo. Kể từ ngày Bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi thường trú hoặc giao hợp lệ đối với người vắng mặt (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình)./.

Cỡ chữ