vanban.org

Bản án 102/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị K phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị K 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Thị K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị K -Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị K phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HS-ST
Ngày: 19/5/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Chương.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2/ Ông Phạm Văn Chính

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 72/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2023/ QĐXXST- HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Thị K, sinh ngày 24/10/1963 tại tỉnh Trà Vinh; thường trú: 32/7A ấp T, xã B, huyện H, Tp.Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B (chết) và bà Nguyễn Thị Minh L (chết); có chồng tên Trần Văn Phi H. Có 02 người con lớn nhất sinh năm 1987 và nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/8/2022 đến ngày 02/12/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngọai, có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bị hại: ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: 25 đường T 21, phường T, quận 12, Tp.Hồ Chí Minh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Dương Tấn T, sinh năm: 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: 93A, ấp H, xã N, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị K cho bà Nguyễn Thị Bích L vay số tiền 190.000.000đồng. Vào ngày 19/4/2020, bà L và chồng là ông Nguyễn Đình T về quê nên đã giao lại quán cháo lòng tại nhà không số Phan Văn Đ, Tổ 8, ấp Tiền Lân 1, xã B, huyện H cho bà Lê Thị H trông nom và vẫn mở quán bán hàng. Biết vợ chồng bà L, ông T về quê và sợ không thu hồi được nợ nên Kiều đến gặp bà H yêu cầu giao chìa khóa quán cho K giữ. Bà H gọi điện thoại báo cho bà L, bà L đồng ý đưa chìa khóa cho K giữ. Sau khi bán hàng xong, bà H đưa chìa khóa cho Kiều đến sáng hôm sau thì lấy lại chìa khóa để mở cửa bán hàng.

Trong quá trình giữ chìa khóa quán cháo lòng của bà L, K biết bà L còn nợ tiền của người khác nên nảy sinh ý định lấy tài sản của ông T, bà L đem về nhà cất giấu với mục đích nếu ông T, bà L muốn lấy lại tài sản thì phải trả nợ cho K. K thuê 03 đối tượng (chưa xác định lai lịch) cùng đến quán cháo lòng lấy tài sản. Khoảng 23 giờ ngày 10/5/2020, lợi dụng đêm khuya, không có người trông giữ tài sản, K đã mở cửa quán cháo lòng cho 03 đối tượng đã thuê vào lấy 01 tivi hiệu LG, 01 tivi hiệu Sony, 01 đầu đĩa DVD hiệu KTV, 01 đầu đĩa hiệu Shuse, 01 đầu đĩa DVD S11, 01 âm ly Karaoke Pro-9000II, 02 loa hiệu Clestison KR2, 02 loa hiệu Boston, 04 ghế sắt mặt gỗ, 01 cái bàn bằng gỗ mặt đá, 06 ghế gỗ có gắn đá, 01 tủ lạnh hiệu Hatachi, 01 máy giặt hiệu Electrolux, 01 máy lạnh Panasonic, 01 cục nóng máy lạnh, 01 bộ máy xay giò chả làm bằng Inox, 01 nồi nấu cháo bằng Inox 304 độ dày 1,5ly đường kính 50cm, chiều cao 90cm, 01 nồi hầm xương bằng Inox 304 độ dày 2 ly đường kính 60cm, chiều cao 80cm, 01 xe Wave biển số 66H4-5234 đem về cất giấu tại nhà của K tại địa chỉ 32/7A ấp T, xã B, huyện H.

Sáng ngày 11/5/2020, bà H đến dọn quán để bán hàng thì thấy đồ đạc bị mất và xáo trộn nên sang nhà K thì phát hiện tài sản của ông T ở trong nhà K nên hỏi thì K nói tối qua đã sang quán dọn đồ của ông T đem về cất giữ. Bà H gọi điện thoại báo cho bà L biết, bà L nói để bà L vào giải quyết.

Ngày 12/5/2020, K thuê bà H và chồng của bà H là Trần Xuân C dọn dẹp đồ đạc trong quán cháo lòng do bị xáo trộn. Khi bà H và C đang dọn dẹp thì bà L, ông T đến. Giữa ông T và C xảy ra xô xát, C dùng đá ném vào ông T gây thương tích.

Khi bà L, ông T đến yêu cầu K trả lại tài sản thì K không trả mà yêu cầu bà L phải trả số tiền nợ là 190.000.000đ thì mới trả lại tài sản. Do vậy, ông T làm đơn tố cáo bà K có hành vi chiếm đoạt tài sản và cho vay lãi nặng.

Lê Thị K tố cáo ông T, bà L có hành vi chiếm đoạt số tiền 190.000.000đ.

Ngày 14/9/2020, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Lê Thị K, yêu cầu giao nộp cho Cơ quan điều tra số tài sản đã lấy của ông T, bà L nhưng K không đồng ý. Đến ngày 23/02/2021, Cơ quan điều tra tiếp tục vận động K giao nộp tang vật vụ án, K vẫn không chấp hành và khai đã đem tài sản của ông T đi cho người khác nhưng không cung cấp họ tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra chỉ lập biên bản thu giữ được 01 tủ lạnh hiệu Hitachi loại 365 lít.

Tại Kết luận định giá tài sản số 233/KL- HĐĐGTS ngày 31/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn kết luận: 01 đầu đĩa DVD KTV là 20.000đ; 01 đầu đĩa Shure: 100.000đ, 01 đầu đĩa DVD S11 là 20.000đ, 01 đôi loa cây Boston là 1.000.000đ, 01 đôi loa Celestion KR2 là 500.000đ; 01 âm ly Karaoke hiệu Pro-9000II là 300.000đ; 01 tivi LG 55 inch là 6.000.000đ; 01 tivi Sony 40 inch là 3.000.000đ; 01 tủ lạnh Hitachi loại 365 lít 4.000.000đ; 01 máy giặt Electrolux loại 7,5kg là 2.000.000đ; 01 máy lạnh hiệu Panasonic 1,5HP gồm 01 máy lạnh, 01 cục nóng là 3.000.000đ; 01 xe gắn máy Wave hiệu Empire màu đỏ biển số 66H4-5234 là 2.500.000đ. Tổng cộng số tài sản định giá được là 22.440.000đ. (Bút lục 21-26)

Tại kết luận định giá tài sản số 191/KL-HĐĐGTS ngày 01/12/2022 của Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn kết luận: Một bộ máy xay giò chả gồm máy xay giò chả loại 15kg bằng Inox 304 độ dày 3 ly, 01 biến tần Trung Quốc hiệu VEICHI, mô tưa mã lực 7,5 ngựa, 01 con dao là 6.000.000đ; 01 nồi hấp giò chả loại 30kg bằng Inox 304 độ dày 2 ly, đường kính 70cm, chiều cao 70cm là 3.000.000đ; Một nồi nấu cháo bằng Inox 304 độ dày 1,5ly đường kính 50cm, chiều cao 90cm, số tiền 1.800.000đ; Một nồi hầm xương bằng Inox 304 độ dày 2 ly đường kính 60cm, chiều cao 80cm là 1.800.000đ. Tổng cộng số tiền 12.600.000đ.

Đối với 01 cái bàn chân bằng gỗ, mặt bàn là đá hoa cương; 06 cái ghế bằng gỗ mặt đá hoa cương; 04 ghế khung bằng sắt và mặt bằng gỗ: không đầy đủ thông tin nên không định giá được. (Bút lục 241-245)

Ngoài những tài sản đã xác định được Lê Thị K đem từ quán cháo của ông T về nhà cất giấu, ông T khai còn bị mất một số tài sản khác. K khai không biết và không lấy, Cơ quan điều tra không chứng minh được Lê Thị K chiếm đoạt các tài sản này.

Sau khi chiếm đoạt tài sản của ông T, K cho con gái là Trần Thị Kiều L 01 tivi hiệu Sony, 04 cái ghế sắt mặt gỗ, 01 cái bàn có chân bằng gỗ, mặt đá; cho cháu ngoại là Nguyễn Trần Gia K 01 xe máy biển số 66H4-5234, Kiệt sử dụng xe máy đi học và vi phạm luật giao thông đường bộ nên bị Công an quận Tân Bình thu giữ xe chuyển giao cho Công an huyện Hóc Môn; cho Lê Tuấn A ở Long Thành, Đồng Nai (cháu của K) 01 máy giặt và 01 máy lạnh. Bộ loa, âm ly, đầu đĩa, 06 ghế gỗ bán cho người mua ve chai; bán cho người tên Nhi (không xác định lai lịch) 01 tivi, nồi hầm xương, nồi nấu cháo, máy xay giò chả đã bán cho người khác không rõ họ tên, địa chỉ.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe máy biển số 66H4-5234, số máy RPTDS152FMH-00030790, số khung bị rỉ sét, mất số. Xe do ông Dương Tấn T đứng tên chủ sở hữu, ông T bán cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên, không nhớ họ tên, địa chỉ người mua. Ông Nguyễn Đình T khai mua xe của người khác để làm phương tiện đi lại, không nhớ tên, địa chỉ của người bán. Cơ quan điều tra đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người liên hệ làm việc.

- 01 ti vi hiệu Sony, 04 cái ghế sắt mặt gỗ, 01 cái bàn có chân bằng gỗ, mặt đá do Trần Thị Kiều L giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả cho ông Nguyễn Đình T.

- 01 tủ lạnh hiệu Hitachi loại 365 lít, Cơ quan điều tra đã trả cho ông Nguyễn Đình T.

Đối với 01 máy lạnh, máy giặt Electrolux loại 7,5kg Lê Tuấn A đã vứt bỏ do bị hư hỏng, không sử dụng được nên Anh đã vứt bỏ và các tài sản còn lại K khai bán cho những người không rõ lai lịch Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về dân sự: Bị can K và gia đình đã tự thương lượng bồi thường cho ông T và ông T đã có đơn bãi nại cho K.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS-HHM ngày 20 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thị K về tội “ Trộm Cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với người bị hại và đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s, khỏan 1, khỏan 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị K từ 09(chín) tháng đến 12(mười) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và có thời gian thử thách từ 18(mười tám) tháng đến 24(hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.

Đề nghị giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu đối với 01 xe máy biển số 66H4-5234, số máy RPTDS152FMH-00030790, số khung bị rỉ sét mất số theo diện tài sản vắng chủ.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, với bản kết luận điều tra của công an huyện Hóc Môn, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 10/5/2020 bị cáo Lê Thị K đã lợi dụng người bị hại vắng nhà nên lén lút chiếm đoạt 01 tivi hiệu LG, 01 tivi hiệu Sony, 01 đầu đĩa DVD hiệu KTV, 01 đầu đĩa hiệu Shuse, 01 đầu đĩa DVD S11, 01 âm ly Karaoke Pro-9000II, 02 loa hiệu Clestison KR2, 02 loa hiệu Boston, 04 ghế sắt mặt gỗ, 01 cái bàn bằng gỗ mặt đá, 06 ghế gỗ có gắn đá, 01 tủ lạnh hiệu Hatachi, 01 máy giặt hiệu Electrolux, 01 máy lạnh Panasonic, 01 cục nóng máy lạnh, 01 bộ máy xay giò chả làm bằng Inox, 01 nồi nấu cháo bằng Inox 304 độ dày 1,5ly đường kính 50cm, chiều cao 90cm, 01 nồi hầm xương bằng Inox 304 độ dày 2 ly đường kính 60cm, chiều cao 80cm, 01 xe Wave biển số 66H4-5234 đem về cất giấu trong nhà của K tại địa chỉ 32/7A ấp T, xã B, huyện H. Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 233/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2020 01 đầu đĩa DVD KTV là 20.000đ; 01 đầu đĩa Shure: 100.000đ, 01 đầu đĩa DVD S11 là 20.000đ, 01 đôi loa cây Boston là 1.000.000đồng, 01 đôi loa Celestion KR2 là 500.000đ; 01 âm ly Karaoke hiệu Pro-9000II là 300.000đ; 01 tivi LG 55 inch là 6.000.000đ; 01 tivi Sony 40 inch là 3.000.000đ; 01 tủ lạnh Hitachi loại 365 lít 4.000.000đ; 01 máy giặt Electrolux loại 7,5kg là 2.000.000đ; 01 máy lạnh hiệu Panasonic 1,5HP gồm 01 máy lạnh, 01 cục nóng là 3.000.000đ; 01 xe gắn máy Wave hiệu Empire màu đỏ biển số 66H4-5234 là 2.500.000đ. Tổng cộng số tài sản định giá được là 22.440.000đ và Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 191/KL-HĐĐGTS ngày 01/12/20202 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự: Một bộ máy xay giò chả gồm máy xay giò chả loại 15kg bằng Inox 304 độ dày 3 ly, 01 biến tần Trung Quốc hiệu VEICHI, mô tưa mã lực 7,5 ngựa, 01 con dao là 6.000.000đ; 01 nồi hấp giò chả loại 30kg bằng Inox 304 độ dày 2 ly đường kính 70cm, chiều cao 70cm là 3.000.000đ; Một nồi nấu cháo bằng Inox 304 độ dày 1,5ly đường kính 50cm, chiều cao 90cm, số tiền 1.800.000đ; Một nồi hầm xương bằng Inox 304 độ dày 2 ly đường kính 60cm, chiều cao 80cm là 1.800.000đ. Tổng cộng số tiền 12.600.000đ, như vậy tài sản mà bị cáo lấy trộm của người bị hại có tổng giá trị là 35.040.000đ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

[3] Bị cáo là người đã thành niên, có sức khỏe, có khả năng lao động nhưng chỉ vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc, bị cáo đã lén lút thực hiện việc trộm cắp tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo cùng gia đình đã khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại đã có đơn bãi nại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo được xem xét cho tại ngoại điều tra và trong thời gian tại ngoại bị cáo không vi phạm gì, hiện bị cáo có nghề nghiệp ổn định, nơi cư trú cụ thể rõ ràng. Do đó áp dụng điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự có phần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng khoản 1, khoản 2, khỏan 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo và có thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Đối với việc bà Nguyễn Thị Bích L tố cáo bị cáo Lê Thị K có hành vi cho vay lãi nặng, kết quả điều tra không có căn cứ để xử lý hình sự đối với bị cáo K về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Đối với việc bị cáo Lê Thị K tố cáo bà Nguyễn Thị Bích L có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, kết quả điều tra xác định giao dịch vay mượn tiền giữa bị cáo K và bà L là giao dịch dân sự.

Đối với Trần Thị Kiều L, Nguyễn Trần Gia K, Lê Tuấn A không biết tài sản bị cáo Lê Thị K cho là do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với hành vi gây thương tích cho ông Nguyễn Đình T của Trần Xuân C, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã xét xử C về tội “Cố ý gây thương tích” trong một vụ án khác.

Đối với các đối tượng chưa xác định lai lịch do bị cáo K thuê để lấy tài sản từ quán cháo lòng của ông T đưa về nhà của bị cáo K cất giữ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, đề nghị xử lý sau.

[7] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và gia đình đã bồi thường cho ông Nguyễn Đình T và ông T đã có đơn bãi nại cho bị cáo và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 tủ lạnh hiệu Hitachi loại 365 lít , 01 ti vi hiệu Sony, 04 cái ghế sắt mặt gỗ, 01 cái bàn có chân bằng gỗ, mặt đá do Trần Thị Kiều L giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả cho ông Nguyễn Đình T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 máy lạnh, máy giặt Electrolux loại 7,5kg do bị hư hỏng, không sử dụng được nên Lê Tuấn A đã vứt bỏ và các tài sản còn lại K khai bán cho những người không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 xe máy biển số 66H4-5234, số máy RPTDS152FMH-00030790, số khung bị rỉ sét, mất số. Xe do ông Dương Tấn T đứng tên chủ sở hữu, ông T bán cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên, không nhớ họ tên, địa chỉ người mua. Ông Nguyễn Đình T khai mua xe của người khác để làm phương tiện đi lại, không nhớ tên, địa chỉ của người bán. Cơ quan điều tra đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người liên hệ làm việc nên Hội đồng xét xử xét thấy giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đăng báo tìm chủ sở hữu để xử lý giải quyết theo diện tài sản vắng chủ.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị K phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s, khỏan 1, khỏan 2 Điều 51; khỏan 1, khỏan 2, khỏan 5 Điều 65; các Điều 32, 50 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị K 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Thị K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khỏan 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu đối với 01 xe máy biển số 66H4-5234, số máy RPTDS152FMH-00030790, số khung bị rỉ sét mất số. Trong thời hạn 01(một) năm kể từ ngày thông báo, nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho họ. Sau 01(một) năm kể từ ngày thông báo mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

(Vật chứng được ghi theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thị K phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để xin xét xử phúc thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

(Đã giải thích chế định án treo).

Cỡ chữ