vanban.org

Bản án 102/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn H được ly hôn. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Hải P, sinh ngày 21/5/2020 cho chị Hoàng Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Phong trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Thanh H - Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị Thanh H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 102/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/4/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đương, bà Trần Thị Minh Hợi.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXX-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thanh H, sinh 2000. Có mặt.

Địa chỉ: Khối 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2000 – Vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2.

Địa chỉ: Khối 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Hoàng Thị Thanh H trình bày:

Chị H kết hôn anh Nguyễn Văn H vào ngày 04/5/2020, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H sống hạnh phúc bên nhau được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng chị H là do tính cách 02 (hai) người không hợp nhau, cuộc sống chung vợ chồng rất nặng nề, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị Hoàng Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn H có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng Hải P, sinh ngày 21/5/2020. Khi vợ chồng sống ly thân con chung sống cùng với chị H, nay ly hôn với anh H chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị Hoàng Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại biên bản ghi lời khai người làm chứng chị Nguyễn Thị H là O của bị đơn anh Nguyễn Văn H, chị Hoài trình bày: Cháu trai của chị là anh Nguyễn Văn H kêt hôn với chị Hoàng Thị Thanh H vào năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng anh H và chị H về sống với gia đình chồng tại khối 1 thị trần Đô Lương, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; cuộc sống vợ chồng anh H, chị H hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, dù đã được 02 gia đình, làng xóm hòa giải, khuyên bảo nhưng không thể đoàn tụ và đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống chị H, anh H là do tính cách không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng dẫn đến cãi vã, xúc phạm nhau. Trong thời gian ly thân chị H sống tại khối 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, còn anh H đi làm ăn ở thành phố Hà Nội từ khi ly thân cho đến nay. Tuy nhiên, chị Hoài không biết rõ địa chỉ chỗ ở và nơi làm việc cụ thể của anh H ở đâu. Mặc dù đi làm ăn xa nhưng anh H vẫn về thăm nhà vào các dịp lễ tết và lần gần đây nhất anh H về thăm nhà là khoảng tháng 2 năm 2023. Anh H có bố là ông Nguyễn Văn Minh (ông Minh là anh trai cả chị Hoài), mẹ là bà Nguyễn Thị Linh nhưng hiện nay ông Minh và bà Linh cũng đi làm ăn ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng chị Hoài không biết địa chỉ cụ thể ở đâu. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ cho anh H và chị Hoài là người nhận thay, sau khi nhận các văn bản tố tụng đó chị Hoài đã thông báo cho anh H nhưng anh H không thể có mặt để giải quyết vụ án vì bận công việc. Về con chung: Vợ chồng anh H và chị H có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng Hải P, sinh ngày 21/5/2020, khi vợ chồng anh H sống ly thân cháu Phong sống cùng với chị H.

Tại các biên bản xác minh ngày 18/01/2023 thấy rằng: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2000 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; anh Nguyễn Văn H có vợ là chị Hoàng Thị Thanh H và có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng Hải P; Bố mẹ anh H là ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Linh. Hiện nay anh H, bà Linh, ông Minh đang đi làm ăn xa. Trong cuộc sống vợ chồng anh H, chị H có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân. Hiện nay chị H và 01 người con chung có đăng ký thường trú hoặc sinh sống tại địa phương.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại khối 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ. Vì vậy, việc giải quyết vụ án, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

Xét đề nghị của nguyên đơn chị Hoàng Thị Thanh H về việc ly hôn và nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau ngày 04/5/2020 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hợp lệ theo quy định của pháp luật, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc bên nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách hai người không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng rất nặng nề, thường xuyên xẩy ra cãi vã không tôn trọng nhau, chị H và anh H đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 đến nay và từ đó mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình, giữa chị H và anh H không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H.

Xét tình cảm giữa chị Hoàng Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn H thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Thanh H là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Hoàng Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn H có 01 con chúng là Nguyễn Hoàng Hải P, sinh ngày 21/5/2020. Xét đề nghị của chị H về việc được trực tiếp nuôi dưỡng con chung thấy rằng: Khi chị H và anh H sống ly thân cháu Phong sống cùng với chị H; mặt khác tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm cháu Nhiên chưa đủ 36 tháng tuổi nên theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng”. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của chị H giao con chung Nguyễn Hoàng Hải P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thanh H và anh Nguyễn Văn H được ly hôn.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Hải P, sinh ngày 21/5/2020 cho chị Hoàng Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Phong trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn H.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

Án phí: Chị Hoàng Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp (Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo BL số 0002683 ngày 07/10/2022 tại Chi cục THANDS huyện Đô Lương).

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ