vanban.org

Bản án 102/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Huỳnh M và anh Huỳnh Văn C được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Mạnh Q, sinh ngày 28/3/2014 và cháu Huỳnh Ngọc B, sinh ngày 05/10/2020 cho anh Huỳnh Văn C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Q, cháu B tròn 18 tuổi. Chị M chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Huyền M- Huỳnh Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Huỳnh M và anh Huỳnh Văn C được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-12-2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh

2. Ông Võ Văn Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Giàu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 262/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Huỳnh M, sinh năm 1995 (có mặt)

Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Trịnh Huỳnh M trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn C tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 2015. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh C thường hay ghen tuông xúc phạm danh dự của chị, do không thể chung sống chị và anh C đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Do tình cảm không còn chị M yêu cầu ly hôn với anh C.

Về con chung: Quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn có hai con chung, Huỳnh Mạnh Q, sinh năm 2014 và Huỳnh Ngọc B, sinh năm 2020, hiện hai cháu đang sống với anh C, con theo ai thì người đó nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Huỳnh Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn anh Huỳnh Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh C chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2015, nên được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo chị M, trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh C hay ghen tuông vô cớ và xúc phạm đến danh dự của chị, từ đó vợ chồng đã ly thân vào năm 2022 đến nay. Quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh C, nhưng anh C không đến Tòa án cho ý kiến về vụ kiện, chứng tỏ anh C đã không quan tâm đến cuộc hôn nhân của anh chị. Điều đó cho thấy giữa chị M và anh C mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị M yêu cầu ly hôn là có cơ sở.

Về con chung: Chị M và anh C có hai con chung, cháu Huỳnh Mạnh Q có nguyên vọng sống với anh C. Và cháu Huỳnh Ngọc B cũng sống với anh C và bên nội từ nhỏ. Để không làm xáo trộn thay đổi môi trường sống của các cháu và trên cơ sở tôn trọng nguyện vọng của con chưa thành niên trên 7 tuổi. Nên Hội đồng xét xử giao con chung theo nguyện vọng của con chung cho anh C nuôi dưỡng. Chị M chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trịnh Huỳnh M phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Huỳnh M và anh Huỳnh Văn C được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Mạnh Q, sinh ngày 28/3/2014 và cháu Huỳnh Ngọc B, sinh ngày 05/10/2020 cho anh Huỳnh Văn C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Q, cháu B tròn 18 tuổi. Chị M chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trịnh Huỳnh M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số PT/2024/52 ngày 09/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị M đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ