vanban.org

Bản án 102/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Thế Ng.

Buộc công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do ông Nguyễn Văn T là giám đốc đại diện theo pháp luật có nghĩa vụ trả ông Bùi Thế Ng số tiền 49.835.000đồng ( bốn chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Ng về việc yêu cầu công ty TNHH MTV thươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bản án dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Thế Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:102/2023/DS-ST.
Ngày: 26-8-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Miện

Ông Bùi Thế Hanh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Duy- Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/8/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số:33/2023/TLST-DS ngày 14/02/2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103a/2023/QĐXXST-DS của tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Bùi Thế Ng, sinh năm 1954. Cư trú: xóm Nam Hương, xã Thanh Ninh, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Công ty TNHH MTV xây dựng và thương mại Quang M.

Địa chỉ trụ sở: Thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1983, chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Kim L, sinh năm

1986. Cư trú: Thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi Thế Ng trình bày: Ngày 05/4/2016 ông có chở vật liệu (đất) cho công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do ông Nguyễn Văn T là giám đốc đại diện. Sau khi chở xong chị Đặng Thị Kim L là vợ anh T và là kế toán công ty và ông Ng đã chốt công nợ tổng khối lượng đất là 1.864,5m3 thành tiền là 11.870.000đồng công ty đã trả cho ông được 60.000.000đồng, còn nợ lại số tiền là 51.870.000đồng và số nợ cũ còn là 2.965.000đồng. Tổng cộng là 54.835.000đồng. Đến ngày 30/12/2016 thì bà L đã trả cho ông Ng được 5.000.000đồng. Số tiền còn nợ lại là 49.835.000đồng. Ông Ng có yêu cầu công ty thanh toán nhiều lần nhưng công ty không trả tiền cho ông. Nay ông yêu cầu công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do ông Nguyễn Văn T là giám đốc đại diện phải thanh toán trả cho ông số tiền còn nợ là 49.835.000đồng. Ông xin rút yêu cầu về việc tính lãi.

Bị đơn là công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do ông Nguyễn Văn T là giám đốc đại diện và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị Kim L đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến tòa án làm việc và không gửi văn bản, ý kiến đến tòa án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử Ng án: Nguyên đơn; chấp hành đúng quy định pháp luật; bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về ý kiến giải quyết vụ án:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 217; Điều 227; Điều 228; 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 430; 440; khoản 2 Điều 357; 468; 469; 688 Bộ luật Dân sự ; Điều 26 Ng quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Thế Ng.

Buộc công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do ông Nguyễn Văn T là giám đốc đại diện theo pháp luật có nghĩa vụ trả ông Bùi Thế Ng số tiền 49.835.000đồng.

Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Ng về việc yêu cầu công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M trả tiền lãi.

Kể từ ngày người được thi hành có có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do ông Nguyễn Văn T là giám đốc đại diện theo pháp luật phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.491.000 đồng.

Đề Ng tuyên quyền kháng cáo cho đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ do ông Ng đã nộp hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đầy đủ, đúng pháp luật.

[1.2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào các giấy tờ do ông Ng giao nộp, lời khai của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy ông Bùi Thế Ng khởi kiện yêu cầu công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M thanh toán số tiền còn nợ là 49.835.000đồng là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Công ty có trụ sở tại thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn ông Bùi Thế Ng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Nguyễn Văn T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị Kim L nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn: Qua lời khai của ông Ng, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn xuất trình và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy: Ngày 05/4/2016 giữa công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do bà Đặng Thị Kim L chức vụ kế toán ( đại diện bên mua) và ông Bùi Thế Ng ( bên bán) có lập bảng khối lượng đất xe chú Ng- Phú Bình và chốt số tiền còn nợ ông Ng là 54.835.000đồng. Ngày 30/12/2016 bà L có trả cho ông Ng số tiền là 5.000.000đồng và viết giấy cam kết trong tháng 2/2017 sẽ trả cho ông Ng số tiền trên. Từ đó đến nay công ty cũng không trả số tiền trên cho ông Ng nên ông Ng khởi kiện yêu cầu công ty phải thanh toán trả cho ông số tiền còn nợ là 49.835.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã liên lạc và tống đạt các văn bản tố tụng cho công ty nhưng công ty không có ý kiến phản đối về việc khởi kiện của ông Ng nên xác định nghĩa vụ trả tiền cho ông Ng thuộc về công ty nên ông Ng khởi kiện là có căn cứ nên cần được được chấp nhận.

[4]. Đối với yêu cầu của ông Ng về việc yêu cầu công ty trả số tiền lãi là 35.836.000đồng nhưng ngày 25/8/2023 ông Ng có đơn xin rút yêu cầu về việc tính lãi. Xét thấy việc rút yêu cầu của ông là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên cần đình chỉ đối với yêu cầu về việc tính lãi của ông.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của ông Ng được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 217; Điều 227; Điều 228; 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 430; 440; khoản 2 Điều 357; 468; 469; 688 Bộ luật Dân sự ; Điều 26 Ng quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Thế Ng.

Buộc công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do ông Nguyễn Văn T là giám đốc đại diện theo pháp luật có nghĩa vụ trả ông Bùi Thế Ng số tiền 49.835.000đồng ( bốn chín triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Ng về việc yêu cầu công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M trả tiền lãi.

Kể từ ngày người được thi hành có có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: công ty TNHH MTV thương mại và xây dựng Quang M do ông Nguyễn Văn T là giám đốc đại diện theo pháp luật phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.491.000 đồng ( hai triệu bốn trăm chín mốt nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ