vanban.org

Bản án 102/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 14/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo HỒ VĂN P 1 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Tách ra để giải quyết thành một vụ án dân sự khác khi người bị hại – bà Xie X có đơn yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ho Van P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2022/HS-ST
Ngày: 14/09/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Vƣơng Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Gia Cát

Ông Nguyễn Minh Á

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Xuân Thiện – Thư ký Tòa án nhân

dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Nam Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 09 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

HỒ VĂN P - Sinh năm: 1990 tại Khánh Hòa

Nơi cư trú: Thôn S, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn L – Sinh năm: 1963 và bà Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1964;

Vợ: Nguyễn Thị Minh V – Sinh năm: 1997, có 3 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 297/2010/HSST ngày 15/12/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 2 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999; Hồ Văn P thực hiện hành vi phạm tội ngày 24/7/2010, chấp hành xong hình phạt án treo ngày 01/3/2015, đã nộp án phí hình sự ngày 05/4/2011.

Ngày 10/12/2021 bị Công an thành phố Nha Trang khởi tố về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo bị truy nã theo Quyết định truy nã số 31/CSĐT ngày 01/9/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, đến ngày 03/12/2021 thì bị bắt, tạm giam trong vụ án khác; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Xie X – Sinh năm: 1967 (Quốc tịch: Trung quốc)

Trú tại: Phòng 1101 khách sạn S, số 76 T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trƣơng Thị Bạch N – Sinh năm: 1979

Trú tại: 41/2 H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Mai Thanh K – Sinh năm: 1958

Trú tại: Tổ 12 TN, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Bà Trần Thị Tuyết L – Sinh năm: 1972

Trú tại: 29 đường T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị M – Sinh năm: 1991

Trú tại: 94 P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch:

Bà Nguyễn Thị Bích U – Sinh năm: 1981

Trú tại: 125 NT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 13/7/2017 Hồ Văn P điều khiển xe máy hiệu Nouvo biển kiểm soát 79L8-X đến khu vực Công viên cạnh tháp Trầm Hương đường T, L, NT nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, P dựng xe ở lề đường và quan sát thấy bà Xie X (Quốc tịch: Trung Quốc) đang chụp hình, bên cạnh có để một túi xách trên ghế đá. Lợi dụng sơ hở của bà Xie X, P lén lút đi đến ghế đá lấy trộm túi xách rồi nhanh chóng đi ra nơi để xe máy của P, bà Xie X phát hiện tri hô nhưng P đã điều khiển xe máy chạy thoát.

P chạy xe máy đến khu vực cầu X, VP, NT thì dừng xe, lục túi xách bên trong có: 1700NDT, hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ ngân hàng của bà Xie X, P giữ lại 1700 NDT, số giấy tờ còn lại và túi xách thì vứt xuống sông. Sau đó, P đem 1700 NDT đến tiệm vàng S trên đường T, V, NT bán được 5.000.000 đồng mang đi tiêu xài cá nhân. Tại Cơ quan Công an thành phố Nha Trang, P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Biên bản xác minh ngày 30/5/2017 tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Khánh Hòa xác định: quy đổi 1700 NDT tại thời điểm ngày 13/3/2017 tương đương 5.482.092 VNĐ. Đối với túi xách của bà Xie X, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Khánh Hòa không có cơ sở để xác định giá trị tài sản.

Bản Cáo trạng số 86/CT-VKSKH-P1 ngày 20/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Hồ Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết về nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hồ Văn P để xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 12 đến 18 tháng tù giam. Về trách nhiệm dân sự, cần tách ra để giải quyết khi người bị hại có yêu cầu.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Hồ Văn P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập hợp lệ bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng nhưng tất cả những người tham gia tố tụng nói trên đều vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hồ Văn P thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có cơ sở để xác định rằng, ngày 13/7/2017, bị cáo P đã lợi dụng sơ hở của người bị hại Xie X để lén lút chiếm đoạt chiếc túi xách bên trong có 1700 Nhân dân tệ cùng một số giấy tờ của bà Xie X; tổng giá trị tài sản bị cáo đã trộm cắp là 5.482.092 đồng. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy bản cáo trạng số 86/CT-VKSKH-P1 ngày 20/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Hồ Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương và hình ảnh của đất nước Việt Nam trong mắt du khách nước ngoài. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học tu sửa bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Sau khi hành vi trộm cắp tài sản bị phát hiện, bị cáo đã bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội và quyết định mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đảm bảo hiệu quả răn đe, giáo dục chung cho xã hội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, gia đình bị cáo có công với Cách mạng nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa sơ thẩm, người bị hại - bà Xie X vắng mặt, không xác định rõ yêu cầu bồi thường thiệt hại nên cần tách ra để giải quyết thành một vụ án dân sự khác nếu người bị hại có yêu cầu.

Theo hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Trương Thị Bạch N xác định đã nhận lại xe máy Nouvo biển kiểm soát 79L8-X và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Hồ Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo HỒ VĂN P 1 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Tách ra để giải quyết thành một vụ án dân sự khác khi người bị hại – bà Xie X có đơn yêu cầu.

Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo Hồ Văn P phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ