- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Thiên V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thiên V, Phạm Vũ T3, Phạm Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 102/2022/HS-ST Ngày 22-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Niệm;
Ông Bùi Văn Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Trịnh Thiên V, sinh năm 1976. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không. Chỗ ở: Số 84, TH, phường TTH, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Thiên Đ và bà Nguyễn Thị Y; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Về nhân thân:
+ Ngày 27/10/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân”, hình phạt chung là 32 tháng tù, chấp hành án xong ngày 25/7/2000 (đã xóa án tích).
- Ngày 24/12/2002, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án xong ngày 06/8/2004 (đã xóa án tích).
- Ngày 25/01/2005, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 06/8/2006 (đã xóa án tích).
Bị cáo Trịnh Thiên V đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2022 cho đến nay; có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Quốc H, sinh năm 1992. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: LLQ, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị Cẩm T1; bị cáo có vợ là Hồ Thị Ngọc T2; bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Về nhân thân:
+ Ngày 12/9/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 03 năm về tội “Cướp giật tài sản” (đã xóa án tích).
+ Ngày 05/02/2015, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong án phạt ngày 23/01/2017 (đã xóa án tích).
+ Ngày 22/8/2011, bị Uỷ ban nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 733/QĐ-UBND đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời gian 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong).
Bị cáo Phạm Quốc H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2022 cho đến nay; có mặt.
3. Họ và tên: Phạm Vũ T3, sinh năm 1997. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp CH, xã ĐM, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo Phạm Vũ T3 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2022 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Văn P, sinh năm 1983. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn BL B, xã EA, huyện Ea Hleo, tỉnh Đắk Lắk; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 15/4/2022, Phạm Vũ T3 (M) rủ Phạm Quốc H và Trịnh Thiên V đi trộm cắp dầu của các xe tải đậu nghỉ ở lề đường bán lấy tiền tiêu xài thì V, H đồng ý. Khoảng 00 giờ ngày 16/4/2022, H điều khiển xe mô tô biển số 52H6 - 0418 chở theo V mang theo 04 bình nhựa mỗi bình có dung tích 30 lít và 01 ống nhựa màu xanh dài khoảng 05m, H điều khiển xe mô tô biển số 52Y1 - 9675 chở theo 06 bình nhựa có dung tích như trên đi từ nhà trọ tại Thành phố Hồ Chí Minh đến địa phận huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để trộm cắp dầu. Khi đến đoạn đường ĐT 741 thuộc ấp BL, xã PH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, thấy xe ô tô tải biển số 47C - 120.36 do ông Trần Văn P điều khiển đang đậu ở lề đường bên phải đường ĐT 741 theo chiều từ xã PH đến Cổng Xanh, H dừng xe đi bộ đến vị trí xe ô tô tải đang đậu còn H và V đứng cách khoảng 50m. H quan sát thấy ông P đang ngủ nên điện thoại kêu V và H chạy lại. H dùng tua vít mang theo đập nắp bình dầu, dùng ống nhựa màu xanh hút dầu đổ đầy vào 09 bình nhựa rồi H phụ đậy nắp bình dầu lại, V khiêng 04 bình nhựa chứa dầu cất giấu vào lề đường. Sau đó, H kêu V ngồi lên xe mô tô biển số 52H6 – 0418, H và H khiêng 04 bình nhựa chứa đầy dầu để lên xe (02 bình để ở ba ga trước và 02 bình để phía sau) còn 01 bình nhựa để gần vị trí xe mô tô. Khoảng 03 giờ ngày 16/4/2022, khi H và H đang hút dầu vào bình thứ 10 thì bị lực lượng Công an xã PH tuần tra phát hiện bắt quả tang Trịnh Thiên V. Riêng Phạm Vũ T3, Phạm Quốc H bỏ chạy thoát.
Ngày 05/9/2022, Phạm Quốc H bị bắt truy nã và ngày 04/10/2022, Phạm Vũ T3 bị bắt theo lệnh truy nã.
Tang vật thu giữ: 09 bình nhựa chứa dầu, mỗi bình nhựa chứa 30 lít dầu Diesel; 01 bình nhựa trắng dung tích 30 lít không có dầu Diesel; 01 xe mô tô biển số 52H6 – 0418; 01 xe mô tô biển số 52Y1 – 9675; 01 ống nhựa dẻo màu xanh (ống nước) dài 05m; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen xám có gắn thẻ sim.
Bản kết luận định giá tài sản ngày 20/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận: 270 lít dầu Diesel đựng trong 09 bình nhựa có trị giá là 6.582.600 đồng (sáu triệu năm trăm tám mươi hai nghìn sáu trăm đồng).
Quá trình điều tra tạm giữ:
- 270 (hai trăm bảy mươi) lít dầu Diesel của ông Trần Văn P.
- 10 bình nhựa màu trắng dung tích 30 lít và 01 ống nhựa màu xanh dài khoảng 5m.
- Xe mô tô biển số 52H6 - 0418 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen xám có gắn thẻ sim thu giữ của Trịnh Thiên V.
- Xe mô tô biển số 52Y1 - 9675 do bà Nguyễn Thị T4, địa chỉ: 28/4A, ấp ĐL, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKSPG, ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Trịnh Thiên V, Phạm Quốc H, Phạm Vũ T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuyên bố các bị cáo Trịnh Thiên V, Phạm Quốc H, Phạm Vũ T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:
- Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Thiên V từ 16 đến 18 tháng tù.
- Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Quốc H từ 20 đến 24 tháng tù.
- Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Vũ T3 từ 20 đến 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 270 (hai trăm bảy mươi) lít dầu Diesel là tài sản của ông Trần Văn P. Ngày 26/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông P, ông P nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
- 10 bình nhựa màu trắng dung tích 30 lít và 01 ống nhựa màu xanh dài khoảng 5m là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Xe mô tô biển số 52H6 – 0418 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen xám có gắn thẻ sim thu giữ của Trịnh Thiên V. Kết quả tra cứu biển số 52H6-0418 không tìm thấy chủ sở hữu, tra cứu số khung, số máy của biển số 52H6-0418, có số máy 152FM100002589 không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo chỉ tiêu tìm kiếm. V khai nhận mua chiếc xe trên của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch với giá 3.000.000 đồng, khi mua không làm giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành đăng công báo truy tìm chủ sở hữu trên báo Thanh niên 03 kỳ liên tiếp nhưng không có ai liên hệ làm việc. Xét thấy chiếc xe mô tô và điện thoại trên là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Xe mô tô biển số 52Y1 - 9675 do bà Nguyễn Thị T4, địa chỉ: 28/4A, ấp ĐL, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Kết quả xác minh, bà Thúy hiện không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đăng công báo truy tìm chủ sở hữu trên báo Thanh niên 03 kỳ liên tiếp nhưng không có ai đến liên hệ. Xét thấy đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, sáng ngày 16/4/2022 các bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của bị hại là 270 lít dầu diesel. Tổng giá trị tài sản các bị cáo lấy trộm của bị hại là 6.582.600 đồng. Các bị cáo thống nhất với bản kết luận định giá tài sản ngày 20/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo, thống nhất với tội danh, hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các bị cáo khai khoảng 03 giờ ngày 16/4/2022, tại ấp BL, xã PH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Các bị cáo Trịnh Thiên V, Phạm Vũ T3 và Phạm Quốc H đang thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 270 lít dầu Diesel của ông Trần Văn P có trị giá 6.582.600 đồng thì bị lực lượng công an bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chủ sở hữu đã chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng giá trị tài sản là 6.582.600 đồng, nên hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Trịnh Thiên V, Phạm Vũ T3, Phạm Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Xét hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Xét động cơ, mục đích phạm tội vì tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài không phải hao tốn sức lao động, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, bị cáo H là người chủ mưu rủ các bị cáo V, H thực hiện hành vi phạm tội vừa là người thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo V, H là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên HĐXX phân hóa hành vi của các bị cáo để xem xét áp dụng hình phạt theo từng vai trò của các bị cáo.
Các bị cáo V, H có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử và bị xử phạt hành chính nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Các bị cáo H, H sau khi bị phát hiện thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố. Nên cần xử phạt nghiêm theo tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đủ sức răn đe cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo H phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên HĐXX áp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận. Về hình phạt đối với các bị cáo là nặng nên HĐXX xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 270 (hai trăm bảy mươi) lít dầu Diesel là tài sản của ông Trần Văn P. Ngày 26/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông P, ông P nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
- 10 bình nhựa màu trắng dung tích 30 lít và 01 ống nhựa màu xanh dài khoảng 5m là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Xe mô tô biển số 52H6 - 0418 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen xám có gắn thẻ sim thu giữ của Trịnh Thiên V. Kết quả tra cứu biển số 52H6-0418 không tìm thấy chủ sở hữu, tra cứu số khung, số máy của biển số 52H6-0418, có số máy 152FM100002589 không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo chỉ tiêu tìm kiếm. V khai nhận mua chiếc xe trên của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch với giá 3.000.000 đồng, khi mua không làm giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành đăng công báo truy tìm chủ sở hữu trên báo Thanh niên 03 kỳ liên tiếp nhưng không có ai liên hệ làm việc. Xét thấy chiếc xe mô tô và điện thoại trên là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Xe mô tô biển số 52Y1 - 9675 do bà Nguyễn Thị T4, địa chỉ: 28/4A, ấp ĐL, xã BĐ, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Kết quả xác minh, bà Thúy hiện không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đăng công báo truy tìm chủ sở hữu trên báo Thanh niên 03 kỳ liên tiếp nhưng không có ai đến liên hệ. Xét thấy đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;, Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thiên V, Phạm Vũ T3, Phạm Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1 Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trịnh Thiên V 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2022.
2.2 Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc H 01 (một) năm 5 (năm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/9/2022.
2.3 Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Vũ T3 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/10/2022.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 10 bình nhựa màu trắng dung tích 30 lít và 01 ống nhựa màu xanh dài khoảng 5m.
Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước:
- 01 xe mô tô biển số 52H6 - 0418;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen xám có gắn thẻ sim;
- 01 xe mô tô biển số 52Y1 - 9675.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Trịnh Thiên V, Phạm Vũ T3, Phạm Quốc H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND H. Phú Giáo; - Công an H. Phú Giáo; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS H. Phú Giáo; - Phòng PV 27 CA Bình Dương; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mạnh |