- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Minh N được ly hôn với ông Nguyễn An T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2022/HNGĐ-ST Ngày: 19/8/2022 V/v“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Tường Viên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Lơn
Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 289/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 92/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2022/QĐST-HNGĐ ngày 02/8/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Minh N – Sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn P, xã Ninh T, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn:
Ông Nguyễn An T – Sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn V, xã Ninh P, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Lâm Thị Minh N trình bày: Bà và ông Nguyễn An T tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Ninh P. Quá trình chung sống ông T hay nhậu nhẹt, về nhà đánh đập bà nhiều lần nên xảy ra mâu thuẫn kình cãi nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào tháng 8/2021 nên bà đã về nhà mẹ đẻ sinh sống, không còn quan tâm đến nhau Na. Nay tình cảm giữa bà và ông T không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn An T.
Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày 01/3/2012. Bà yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – ông Nguyễn An T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không lấy được lời trình bày.
* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã N trình bày quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có cơ sở vì tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày 01/3/2012. Bà yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại bà N đang nuôi dưỡng cháu H nên để đảm bảo quyền lợi cho cháu cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được nuôi con chung tên Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày 01/3/2012. Về cấp dưỡng nuôi con chung, nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã nhiều lần triệu tập lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đồng thời tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn An T đều vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn An T có hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã Ninh P, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Bà N yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với ông T nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Minh N và ông Nguyễn An T tự nguyện chung sống, kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ninh Phụng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 86, quyển số 01/2010, cấp ngày 12 tháng 9 năm 2011. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Thị Minh N và ông Nguyễn An T là hợp pháp.
Theo lời trình bày của nguyên đơn thì sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông T thường hay nhậu nhẹt, về nhà đánh đập bà nhiều lần làm cho tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, mâu thuẫn căng thẳng trầm trọng nên từ tháng 08/2021 vợ chồng đã không còn quan tâm chung sống với nhau Na. Ông Nguyễn An T đã được triệu tập đến tòa để thực hiện quyền, nghĩa vụ nhưng không có mặt là tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xét thấy cuộc sống vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau nhưng cuộc sống chung giữa bà N và ông T không hạnh phúc, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung:
Bà N và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày 01/3/2012. Bà N yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của cháu H muốn được ở với mẹ và bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông T đã được triệu tập nhưng không có mặt tại Tòa án để thực hiện quyền yêu cầu về việc nuôi con chung.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và để đảm bảo cho cháu có đủ điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội nên cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung tên Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày 01/3/2012 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
Sau khi ly hôn, ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát có quan điểm cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và nuôi con chung là có cơ sở chấp nhận và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Quan điểm nói trên của vị đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Tòa án nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Lâm Thị Minh N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Minh N được ly hôn với ông Nguyễn An T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Minh H, sinh ngày 01/3/2012 cho bà Lâm Thị Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Minh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà Lâm Thị Minh N phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0004703 ngày 12/4/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã N. Bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã N; - THADS thị xã N; - UBND xã Ninh P; (GCNKH số 86/2011 ngày 12/9/2011); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Huỳnh Tường Viên |