vanban.org

Bản án 102/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị C Th T được ly hôn anh C Qu Kh.

Về con chung: Xử giao cho anh C Qu Kh được nuôi dưỡng cháu C Th M H, sinh ngày 25/3/2013 và cháu C Ng Tr M, sinh ngày 11/9/2014, chị C Th T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho mỗi cháu. Việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 10/2022 cho đến khi cháu H và cháu M tròn 18 tuổi. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị C Th T được ly hôn anh C Qu Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 102/2022/HNGĐ- ST
Ngày: 28/9/2022
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Trương Ngọc Nhân

Ông: Lê Minh Toàn

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Tô Hoài – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2022/TLST - HNGĐ ngày 01/8/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị C Th T, sinh năm 1987

Trú tại: Bản H L, xã H S, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh C Qu Kh, sinh năm 1990

Nơi ĐKNKTT: Thôn T Ph, xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27/7/2022 và bản tự khai ngày 17/8/2022 của nguyên đơn C Th T trình bày giữa chị và anh C Qu Kh đã đăng ký kết hôn ngày 24/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau gây mất đoàn kết gia đình, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn vợ chồng sống ly thân đã lâu. Vì vậy chị T làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kh.

Con chung của vợ chồng: Hai vợ chồng có 02 người con chung là cháu C Th M H, sinh ngày 25/3/2013 và cháu C Ng Tr M, sinh ngày 11/9/2014. Các cháu có nguyện vọng được ở với bố nên chị T nhất trí giao con cho anh Kh nuôi dưỡng con và chị T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho mỗi cháu.

Tài sản chung: Không có.

Khoản vay chung: Không có

Ngày 14/9/2022, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với chị T và anh Kh. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Kh vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà vì vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay anh Kh vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện VKSND huyện Minh Hóa phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án nên Hội đồng xét xử sẻ xem xét để quyết định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã triệu tập anh Kh nhiều lần nhưng anh Kh không đến Toà án để giải quyết vụ án. Toà án đã đến tại cơ sở và xác minh thì biết được anh Kh có hộ khẩu thường trú tại xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình, hiện tại anh Kh đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương. Tòa án đã niêm yết tất cả các giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Thông báo mở lại phiên tòa nhưng anh Kh vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo yêu cầu của chị T. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị C Th T và anh C Qu Kh đã đăng ký kết hôn ngày 24/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Tr H, huyện M H, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nhưng do anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà hai bên không khắc phục được dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Xét thấy nguyện vọng của chị T xin được ly hôn là chính đáng cần chấp nhận, áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị C Th T được ly hôn anh C Qu Kh.

Về con chung: Cháu H và cháu M có nguyện vọng được ở với anh Kh, chị T nhất trí giao các con cho anh Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy để cho các cháu ổn định việc học tập, không ảnh hưởng đến tâm lý phát triển bình thường của các cháu và tôn trọng nguyện vọng của các cháu Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cho anh C Qu Kh được nuôi dưỡng cháu C Th M H, sinh ngày 25/3/2013 và cháu C Ng Tr M, sinh ngày 11/9/2014, chị C Th T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H và cháu M tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có nên không xem xét

Khoản vay chung: Không có nên không xem xét

Án phí: Chị C Th T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000643 ngày 01/8/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa nay khâu trừ. Chị T còn tiếp tục nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, 56, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị C Th T được ly hôn anh C Qu Kh.

2. Về con chung: Xử giao cho anh C Qu Kh được nuôi dưỡng cháu C Th M H, sinh ngày 25/3/2013 và cháu C Ng Tr M, sinh ngày 11/9/2014, chị C Th T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho mỗi cháu. Việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 10/2022 cho đến khi cháu H và cháu M tròn 18 tuổi.

Không ai được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung, khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị C Th T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000643 ngày 01/8/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa nay khấu trừ. Chị T còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ.

4. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/9/2022), bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ