- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc Chi - Trần Cao Sơn - Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI [ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23-8-2022 V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Linh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 153/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: Tổ 10, ấp TP, xã LP, Huyện LT, Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Trần Cao S, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Tổ 4, ấp SC, xã SC, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.
(Chị C có mặt, anh S vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15/3/2022, các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên Tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc C trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Cao S tự tìm hiểu nhau và tiến tới kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã LP, huyện Long Thành. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên cũng có xảy ra mâu thuẫn nhưng vì con chị đã cố gắng chung sống với anh S để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng đến năm 2021, chị và anh S mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân do không còn đồng quan điểm sống, anh S có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, khi mâu thuẫn anh S còn đánh chị nhiều lần, trong cuộc sống anh S thiếu trách nhiệm với gia đình và cũng không quan tâm chăm sóc các con, mâu thuẫn kéo dài không bàn bạc đoàn tụ được. Vì vậy từ tháng 10/2021, chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống và ly thân anh S cho đến nay. Chị xét thấy chị và anh S không thể tiếp tục chung sống xây dựng gia đình hạnh phúc, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh S.
+ Về con chung: Vợ chồng có hai con chung:
1. Cháu Trần Gia B, sinh ngày 30/4/2018.
2. Cháu Trần Khánh M, sinh ngày 17/5/2021.
Hiện hai con đang do chị nuôi dưỡng. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi hai con chung, vì từ khi ly thân đến nay, anh S không quan tâm và cũng không có trách nhiệm với các con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu để anh S tự có trách nhiệm.
+ Về tài sản chung: Không có.
+ Về nợ chung: Không có.
- Bị đơn anh Trần Cao S vắng mặt không có lý do.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo luật định, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh S là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai chị C và chứng cứ tại hồ sơ cho thấy: Quá trình chung sống giữa chị C và anh S đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thời gian ly thân kéo dài, không bàn bạc đoàn tụ được, quá trình giải quyết ly hôn, Tòa án đã triệu tập và thông báo cho anh S nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng anh S đều vắng mặt, cho thấy hôn nhân giữa chị C - anh S đã mâu thuẫn trầm trọng như chị C trình bày là đúng. Vì vậy, chị C yêu cầu được ly hôn anh S là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C.
+ Về con chung: Có hai con chung hiện đang do chị C nuôi dưỡng. Ly hôn chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, do anh S vắng mặt không có ý kiến nên đề nghị giao hai con chung cho chị C nuôi dưỡng.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Vụ án thuộc loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn anh Trần Cao S có nơi cư trú tại ấp SC, xã BC, huyện LT, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân huyện Long Thành thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Cao S đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh S.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân giữa chị C và anh S xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LP, huyện LT đúng quy định pháp luật, theo giấy chứng nhận kết hôn số 146/2017 ngày 25/10/2017 nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh S nhưng anh S không tham gia tố tụng nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được. Thể hiện anh S không có trách nhiệm đối với mối quan hệ hôn nhân với chị C, không thực hiện quyền và chấp hành nghĩa vụ theo luật định. Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, sống không hạnh phúc, thời gian ly thân kéo dài, không bàn bạc đoàn tụ được, mục đích hôn nhân không đạt theo như lời khai của chị C là hoàn toàn có căn cứ. Vì vậy, chị C yêu cầu được ly hôn anh S là có cơ sở nên chấp nhận.
- Về con chung: Có hai con chung:
1. Cháu Trần Gia B, sinh ngày 30/4/2018.
2. Cháu Trần Khánh M, sinh ngày 17/5/2021.
Hiện hai con đang do chị C nuôi dưỡng. Ly hôn chị C yêu cầu được nuôi hai con chung. Xét chị C đảm bảo nuôi con tốt nên giao hai con chung cho chị C được quyền nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.
Về án phí: Theo luật định Chị Cphải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 và Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc C đối với bị đơn anh Trần Cao S về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc C được ly hôn anh Trần Cao S.
2/ Về con chung: Có hai con chung:
- Cháu Trần Gia B, sinh ngày 30/4/2018.
- Cháu Trần Khánh M, sinh ngày 17/5/2021.
Giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc C được quyền nuôi dưỡng hai con chung, tạm thời anh S không cấp dưỡng nuôi con do chị C không yêu cầu.
Anh S được quyền đến thăm nom hai con chung không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.
4/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005451 ngày 15/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, chị C đã nộp đủ án phí.
5/ Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ngọc C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Cao S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND h. Long Thành (1); - Chi cục THADS H. Long Thành (1); - UBND xã LP, H.Long Thành (1); - Đương sự (2); - Lưu (3). | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Hà |