vanban.org

Bản án 102/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 238; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Ngọc L được ly hôn anh Nguyễn Văn L1. 2/ Về con chung: Xác định chị Lê Ngọc L và anh Nguyễn Văn L1 sinh được một con chung là Nguyễn Tiến T, sinh ngày 01/7/2003; hiện con đã lớn trưởng thành trên 18 tuổi, nên cả chị L và anh L1 đều không đề nghị Tòa án giải quyế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng Điều 28; 35; 147; 238; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30-11-2022
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi

Các hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Văn Thanh

Ông: Nguyễn Quang Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 30/11/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 362/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2022/QĐXXST-DS ngày 28/10/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14/11/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc L, sinh năm 1977 (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1975 (vắng mặt);

Đều cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lê Ngọc L trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn L1 ngày 04/3/1999, trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 10/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không xây dựng được hạnh phúc gia đình, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 10/2021. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L1.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Tiến T, sinh ngày 01/7/2003; hiện cháu đã lớn trưởng thành trên 18 tuổi đang làm công nhân ở tỉnh Bắc Ninh. Nay ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, mà để cháu tự lựa chọn ở với ai là quyền của cháu.

Về tài sản: Vợ chồng xin tự thỏa thuận, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn L1 trình bày: Chị L trình bày về thời gian kết hôn và đăng ký kết hôn là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị L ghen tuông, nghi ngờ anh có quan hệ ngoại tình với người con gái khác và tự bỏ nhà đi. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, anh chưa có ý định bỏ vợ, nên chị L làm đơn xin ly hôn anh không đồng ý. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Tiến T, sinh ngày 01/7/2003; hiện cháu đã lớn trưởng thành trên 18 tuổi đang làm công nhân ở khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nay nếu ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, mà để cháu tự lựa chọn ở với ai là quyền của cháu. Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay chị L vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; anh L1 vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân, các đương sự trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị L vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; anh L vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Do vậy đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử cho chị L được ly hôn anh L1; Về con chung và tài sản: Chị L và anh L1 đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; chị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lê Ngọc L, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Khởi kiện xin ly hôn đối với anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Chị L xin được ly hôn anh L1, không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, đề nghị xin được ly hôn, không đề nghị giải quyết về con chung và tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay chị L vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; anh L1 vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Nên HĐXX áp dụng Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Ngọc L kết hôn với anh Nguyễn Văn L1 ngày 04/3/1999, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến tháng 10/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không hòa thuận được để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 10/2021. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị L thiết tha xin được ly hôn, nhưng phía anh L1 không đồng ý ly hôn và cho rằng chưa có ý định bỏ vợ; tại phiên họp và hòa giải ngày 28/10/2022 chị L vẫn kiên quyết xin được ly hôn, nhưng anh L1 vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay anh L1 vẫn tiếp tục vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần xử cho chị L được ly hôn anh L1. Xét là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị L và anh L1 sinh được một con chung là Nguyễn Tiến T, sinh ngày 01/7/2003; hiện con đã lớn trưởng thành trên 18 tuổi đang làm công nhân ở khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nay ly hôn cả chị L và anh L1 đều không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, mà để cháu tự lựa chọn ở với ai là quyền của cháu. HĐXX xét thấy là phù hợp nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án cả chị L và anh L1 đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay, chị L vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; anh L1 vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 238; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Ngọc L được ly hôn anh Nguyễn Văn L1.

2/ Về con chung: Xác định chị Lê Ngọc L và anh Nguyễn Văn L1 sinh được một con chung là Nguyễn Tiến T, sinh ngày 01/7/2003; hiện con đã lớn trưởng thành trên 18 tuổi, nên cả chị L và anh L1 đều không đề nghị Tòa án giải quyết, mà để cháu tự lựa chọn ở với ai là quyền của cháu.

3/ Về án phí: Chị Lê Ngọc L phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013142 ngày 06/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt án vắng mặt.

Án xử sơ thẩm công khai./.

Cỡ chữ